Giải quyết bí ẩn về giấc ngủ

Tác giả: Joy Y. Wan (18/7/2018)
Nguồn: http://thedishonscience.stanford.edu/posts/solving-the-mystery-of-sleep/

RẤT NHIỀU CÂU HỎI (VÀ VÀI CÂU TRẢ LỜI) VỀ MỘT PHẦN CƠ BẢN NHƯNG QUÁ QUAN TRỌNG CỦA CUỘC SỐNG.

Bây giờ là 7 giờ sáng, chuông báo thức của bạn kêu vang, và bạn biết đến lúc phải tới trường… Nhưng bạn chọn bấm vào nút “hoãn báo thức” và ngủ tiếp. Hoặc đã đến lúc phải đi làm nên bạn ra khỏi giường và đi vào nhà bếp, đi thẳng đến máy pha cà phê vì bạn biết bạn sẽ cần chút caffeine để giữ tỉnh táo. Đêm đó, bạn cảm thấy mệt và quyết định đi ngủ (Hoặc với những người hay thức khuya, sẽ vẫn tiếp tục với thêm vài ly cà phê nữa).
Có phải kỳ lạ không khi bạn phải thức dậy rồi lại đi ngủ, ngày này qua ngày khác? Bạn có từng tự hỏi thậm chí vì sao bạn cần đi ngủ, hoặc thứ gì đã xảy ra lúc bạn ngủ? Tất cả chúng ta đều có cảm thấy một cách trực cảm rằng giấc ngủ là quan trọng. Nếu ta ngủ ít hơn lượng ta cần, hẳn ta sẽ khó mà tập trung được vào công việc hay lái xe. Chúng ta dành một phần đáng kể thời gian của ta vào việc ngủ – Tính trung bình, chúng ta sẽ mất khoảng một phần ba đời mình chỉ để ngủ!

Dù cho khoảng thời gian vô cùng lớn ta đã dành cho việc ngủ mỗi đêm lẫn tầm quan trọng của nó đến sự tồn tại của chính chúng ta và cho cả những hoạt động ngày này qua ngày khác, chúng ta vẫn chẳng biết nhiều về giấc ngủ. Ví dụ một thứ, ta hầu như chẳng rõ tại sao ta ngủ. Đã có bốn ý kiến khá thuyết phục đã đưa ra để trả lời cho câu hỏi vì sao ta ngủ: Để sửa lại những tế bào bị hư tổn bởi những phân tử có hại; để bổ sung năng lượng cho cơ thể để ta sử dụng lúc thức giấc; để làm sạch thêm nhiều nữa những kết nối thần kinh trong não; và để củng cố việc học hành lẫn trí nhớ. Trong khi chúng ta đều có bằng chứng chứng minh cho tất thảy những giả định đó, chúng ta chẳng hề biết liệu chúng có đang đều hợp lý cùng lúc, hoặc thậm chí chỉ là một ý kiến bất kỳ trong số chúng, sẽ bổ sung thêm vào lý do vì sao chúng ta ngủ.

Chúng ta thậm chí cũng chẳng thật sự hiểu cách não bộ kiểm soát giấc ngủ. Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần hiểu trước tiên cách chúng ta định nghĩa về giấc ngủ. Chúng ta hiện có hiểu biết về hai quá trình riêng biệt nhưng có liên thông lẫn nhau đang kiểm soát chu kỳ ngủ-tỉnh của mình. Chu trình đầu tiên là hệ thống đồng hồ sinh học vốn kiểm soát khi nào ta thức dậy vào mỗi sáng và khi nào ta sẽ đi ngủ vào buổi đêm. Chu trình thứ hai là hệ thống cân bằng nội môi trong lúc ngủ vốn sẽ kiểm soát cơ chế cân bằng trong giấc ngủ của ta. Về cơ bản, chúng ta thức càng nhiều, chúng ta sẽ càng muốn đi ngủ. Vì vậy để trả lời cho câu hỏi não bộ đã kiểm soát giấc ngủ bằng cách nào, các nhà nghiên cứu đã hứng thú đi tìm những loại gene, phân tử và cả loại tế bào thần kinh nào sẽ chịu trách nhiệm kiểm soát đồng hồ sinh học và cả chu trình cân bằng nội môi.

Một cách lý tưởng, chúng ta luôn muốn tìm hiểu trực tiếp cách giấc ngủ được điều hòa trong cơ thể. Tuy nhiên, chúng ta chẳng thể thực hiện được điều này cách dễ dàng vì những giới hạn về mặt thí nghiệm: Ví như, hãy tưởng tượng ta sẽ làm một người trở nên thiếu ngủ rồi sẽ kích thích não anh ấy/cô ấy để phân tích xem phân tử hay tế bào thần kinh nào đang còn hoạt động! Để tránh những vấn đề này, chúng ta sẽ sử dụng những sinh vật mẫu vốn có thể dễ dàng làm việc cùng nhưng lại có những đặc tính lúc ngủ tương tự như của chúng ta. Một cách kỳ diệu, các nhà nghiên cứu đã quay sang những chú ruồi giấm hiền lành cho sự nỗ lực lần này. Vâng, ruồi giấm thực sự có não! Và cũng đúng luôn, ruồi giấm có thực sự ngủ!

Trong thực tế, khi chúng ngủ, chúng sẽ thay đổi tư thế, giúp tăng cường ngưỡng kích thích (Nghĩa rằng sẽ khó đánh thức chúng hơn), và chu trình bất động này có thể kéo dài nhiều giờ. Điều thậm chí còn thú vị hơn là những chú ruồi và con người vốn cùng chia sẻ nhiều đặc tính tương tự nhau khi ngủ. Lấy ví dụ, ruồi ngủ vào ban đêm và cũng có xu hướng ngủ trưa. Nếu ruồi thiếu ngủ, chúng sẽ cố ngủ bù vào ngày hôm sau, và cũng sẽ thể hiện khá kém trong các bài kiểm tra trí nhớ. Chúng thậm chí còn nhạy cảm với những chất kích thích cũng giống chúng ta. Như việc con người uống cà phê để giữ tỉnh táo, chất caffeine cũng giúp ruồi tỉnh táo, hệt như thế!

Vậy bằng cách nào chúng ta có thể nghiên cứu loại gene, loại phân tử hay tế bào thần kinh nào đang kiểm soát giấc ngủ của ruồi giấm? Rất phổ biến, cách tiếp cận hiệu quả là thao túng các gene hoặc các hoạt động thần kinh của ruồi để xem điều gì sẽ thay đổi giấc ngủ của chúng. Như đã nói phía trước, ruồi và con người chia sẻ rất nhiều đặc điểm giống nhau khi ngủ. Như việc con người thấy khó ngủ vì chứng mất ngủ (Insomnia), các nhà nghiên cứu cũng có thể tạo ra những chú ruồi đột biến cũng không thể ngủ. Phòng thí nghiệm của Dragana Rogulja ở Harvard, lấy ví dụ, đã nghiên cứu những chú ruồi mất ngủ này để tìm ra loại gene đã kiểm soát cách một chú ruồi ngủ thiếp đi cũng như cách chúng chìm trong giấc ngủ.

Ngoài việc xác định ra các loại gene, các nhà nghiên cứu ở đại học Johns Hopkins đã kích thích lên các mạch thần kinh điều hòa giấc ngủ. Phòng thí nghiệm của Mark Wu đã tìm ra một nhóm các tế bào thần kinh, gọi là tế bào thần kinh R2, vốn sẽ kiểm soát cơ chế ngủ ở ruồi. Khi họ kích hoạt tính di truyền ở các tế bào thần kinh R2 này, những chú ruồi giấm bắt đầu chìm vào giấc ngủ, và thậm chí sẽ tiếp tục ngủ trong nhiều giờ sau khi các tế bào được kích hoạt. Những nhà nghiên cứu sau đó đã kích hoạt những tế bào thần kinh ở những chú ruồi thiếu ngủ để xem việc loại bỏ những hoạt động thần kinh R2 sẽ tác động thế nào đến giấc ngủ. Thông thường, những chú ruồi thiếu ngủ sẽ ngủ nhiều hơn, gọi là giấc ngủ hồi phục, để bù cho việc nợ ngủ. Khi các tế bào thần kinh R2 được tắt đi ở những chú ruồi thiếu ngủ, tuy vậy, chúng vẫn ngủ bù ít hơn. Điều này có nghĩa rằng những tế bào thần kinh R2 là rất quan trọng trong việc giúp đỡ những chú ruồi ngủ nhiều hơn so với khi chúng được tắt đi.

Bằng cách sử dụng một kỹ thuật đặc biệt để quan sát những tế bào thần kinh ở động vật sống, nhóm của tiến sĩ Wu cũng đã phát hiện ra những tế bào thần kinh R2 đã hoạt động tích cực hơn ở những chú ruồi thiếu ngủ và trở nên kém tích cực đi sau 24 giờ ngủ phục hồi. Những kết quả này thật phấn khởi vì chúng đã đưa ra nhận định rằng sự thay đổi hoạt động ở một nhóm tế bào thần kinh riêng biệt sẽ kiểm soát cơ chế toàn giấc ngủ.
Nhưng việc tìm ra điều gì đang kiểm soát giấc ngủ vẫn chưa phải một kết cục của câu chuyện. Động lực chính cho việc nghiên cứu giấc ngủ ở ruồi giấm chính là sự hiểu biết về cách chúng ta sẽ chữa trị cho chứng ruối loạn giấc ngủ ở người và những căn bệnh khác có liên quan tới những vấn đề về giấc ngủ. Một nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng việc thiếu ngủ ở những chú ruồi non sẽ tác động lên sự phát triển não bộ, vốn cho rằng việc ngủ trong suốt thời thơ ấu là cực kỳ quan trọng cho việc giữ cho những chú ruồi đói được tỉnh táo. Kết quả này đã nối kết những giấc ngủ đều đặn với quá trình trao đổi chất và cũng chỉ ra khả năng chính việc thiếu ngủ ở người đã dẫn đến các chứng rối loạn trao đổi chất như béo phì và tiểu đường.

Những nghiên cứu này ở ruồi giấm là cực kỳ quan trọng vì khả năng cao chúng đã chỉ ra điều gì đang diễn ra ở cấp độ gene và phân tử trong suốt quá trình ngủ ở động vật, việc tìm ra điều đó có thể đúng cho cả con người. Những kết quả đó cũng là vô cùng mạnh mẽ vì chúng đã cùng cố những hiểu biết mang tính trực giác của chúng ta về giấc ngủ. Giấc ngủ cũng ảnh hưởng lên nhiều chu trình quan trọng đối với sức khỏe, như quá trình phát triển và trao đổi chất. Sự thật rằng việc phá hỏng những giấc ngủ thực có tác động lên những loài vật cách xa loài người như ruồi giấm đã nói lên tầm quan trọng về mặt tiến hóa của giấc ngủ cũng như mối liên hệ cổ xưa của chúng đến với sức khỏe của chúng ta. Chúng ta cần có những hiểu biết xa hơn về khoa học phía sau giấc ngủ và cách để chữa trị chứng rối loạn giấc ngủ ở người. Cùng với rất nhiều những hứng thú khi nghiên cứu về giấc ngủ, các nhà khoa học hiện tại đã chọn nghiên cứu mạnh mẽ hơn nữa và sẽ ngủ… sau vậy.

5 lời khuyên cho những người lần đầu đeo kính áp tròng

Ngày đăng: 18/4/2018
Nguồn: https://coopervision.com/…/five-tips-for-first-time-contact…

Chúc mừng bạn có cặp kính áp tròng đầu tiên! Nếu bạn cũng như hầu hết mọi người, bạn sẽ trải qua vài ngày đầu tiên hơi bỡ ngỡ về thứ dụng cụ nhãn khoa nhỏ bé mà trước đây bạn chưa từng biết này_như việc màn sương mờ hay bám trên kính và cả những đốm nhỏ màu xanh lá chói lóa kia không còn nữa.

Đó là khoảng thời gian vô cùng thú vị nhưng, như với bất kỳ thứ gì mới mẻ, nó sẽ có thể hơi sợ nữa. Sau cùng, kính áp tròng được xem là một thiết bị y tế công nghệ cao và thị giác lại là một trong những giác quan giá trị nhất của bạn. Vì vậy, sẽ là quan trọng khi ra một quyết định đúng đắn để chính bạn có thể cảm thấy thoải mái, vui vẻ và cả an toàn nữa. Sau đây là năm lời khuyên được đúc kết nhằm mang lại cho bạn một trải nghiệm thành công cùng cặp kính áp tròng mới của mình.

1. Cứ thư giãn. Nhiều người lo rằng họ sẽ làm trầy xước mắt mình khi đeo kính áp tròng vào hoặc tệ hơn, kính áp tròng sẽ vướng vào vùng sau mắt họ. Cứ thư giãn nào. Việc đeo kính vào rồi lại lấy nó ra có thể sẽ làm bạn hơi lo lắng lúc ban đầu, nhưng trong chính sự bối rối đó, thực ra cũng không cần phải sợ khi chạm vào mắt miễn là tay bạn sạch sẽ. Thêm nữa, phần trong mí mắt của bạn vốn nối với phần mặt sau của mắt, do đó tròng kính của bạn sẽ không thể trôi tuột xuống hõm được.

2. Giữ tròng kính được sạch sẽ. Đừng đi tắt trong việc lau kính. Bác sĩ của bạn sẽ cho bạn hướng dẫn phù hợp cho việc chăm sóc loại tròng kính được chọn. Ví dụ, nếu bạn được bảo hãy dùng loại dung dịch đa dụng, mỗi lần lấy kính ra, bạn nên chà rửa và súc qua nó bằng dung dịch mới, đừng dùng lại nước rửa có sẵn trong hộp đựng kính. Khi bạn đeo kính vào buổi sáng, hãy rửa sạch kỹ lưỡng hộp đựng, súc qua bằng nước rửa mới rồi dốc ngược nó xuống và đừng đậy nắp, trên một miếng khăn giấy để hong khô nó. Hộp kiếng nên được thay sau mỗi 3 tháng. Nếu chu trình súc rửa này nghe qua quá phiền phức, hãy nói bác sĩ cho bạn loại kính dùng và bỏ trong ngày như là MyDay® hoặc clariti® 1 day. Những loại tròng kính này có thể bỏ đi mỗi đêm và dùng cặp mới vào mỗi sáng, điều này sẽ loại bỏ những bận tậm cho việc lau rửa và cất giữ kính.

3. Hãy giữ ẩm. Bất kể bạn có đeo kính áp tròng hay không, sẽ là vô cùng quan trọng để giữ ẩm bằng cách uống nhiều nước. Thêm vào đó, phụ thuộc vào lối sống của bạn và cả môi trường sống, bạn có thể sẽ muốn bổ sung lượng dung dịch hấp thu bằng việc sử dụng thuốc nhỏ mắt giữ ẩm cho mắt. Ví như, với những người dành nhiều thời giờ sử dụng máy tính hoặc tiếp xúc với không khí khô, lò sưởi hoặc máy điều hòa sẽ luôn tìm thấy lợi ích bằng việc dùng thuốc nhỏ mắt, thậm chí khi họ không dùng kính áp tròng. Một quy tắc kinh nghiệm quan trọng nếu bạn dùng kính áp tròng rằng bạn cần đảm bảo thuốc nhỏ mắt bạn dùng sẽ tương thích với loại tròng bạn đeo. Hãy hỏi bác sĩ của bạn loại thuốc nhỏ mắt nào là tốt nhất cho mình.

4. Làm theo hướng dẫn của bác sĩ. Chỉ sử dụng những sản phẩm được chỉ định bởi bác sĩ mắt của bạn. Đừng thay đổi các sản phẩm chăm sóc mắt, thậm chí chỉ là đổi các nhãn hiệu mà không hỏi qua trước ý kiến bác sĩ. Loại nước rửa bạn dùng là loại đã được chọn đặc biệt cho loại tròng kính của bạn, nên hãy đừng đưa ra những giả định dựa trên hàng loạt các nhãn hiệu in trên bao bì. Cũng sẽ rất quan trọng để giữ lấy lịch hẹn với bác sĩ. Bất kể lịch tái khám nào bác sĩ của bạn đề ra, hãy làm theo như vậy.

5. Tuân theo lịch trình đeo kính lẫn thay kính. Đừng tự cố viết ra lịch trình cho mình. Chỉ đeo kính trong thời lượng bác sĩ của bạn cho là an toàn và hãy thay kính theo đúng lịch trình. Đừng cố kéo dài tuổi thọ tròng kính thêm một tuần. Cũng vậy, trừ khi bạn được chỉ định đặc biệt đeo kính liên tục, bạn không nên đi ngủ mà vẫn còn đeo kính áp tròng.

Học biết cách làm điều gì mới mẻ đều sẽ mất thời gian. Thực ra, nó sẽ tốn đâu đó khoảng một tuần cho đến khi bạn quen với cuộc sống mới cùng kính áp tròng và cảm thấy hoàn toàn tự tin. Nhưng trước khi bạn biết điều đó, kính áp tròng sẽ trở thành một phần giá trị không thể thiếu cho cuộc sống của bạn.

Những nguy hiểm khi dụi mắt

Nguồn: https://visioneyeinstitute.com.au/eye…/dangers-rubbing-eyes/

Dụi mắt dường như là một việc tương đối vô hại khi thực hiện. Hầu hết chúng ta vẫn làm nó thường xuyên, bất kể việc ta đang bị hành bởi sốt mùa khô hay một cơn cảm lạnh thông thường, hoặc đang cảm thấy mệt mỏi và lảo đảo. Dụi mắt sẽ kích thích chảy nước mắt, làm ẩm khi mắt khô và loại trừ bụi và các chất kích ứng khác.

Dụi mắt cũng có thể mang tính trị liệu. Ấn nhãn cầu của bạn xuống có thể kích thích dây thần kinh phế vị, từ đó làm chậm nhịp tim của bạn và xả được stress.
Tuy vậy, nếu bạn dụi mắt quá nhiều lần hoặc quá mạnh, bạn có thể sẽ gây tổn hại bằng rất nhiều cách…

Tác hại gì có thể bị gây ra?
• Để bắt đầu, dụi mắt có thể tàn phá chính diện mạo của bạn! Nó làm vỡ các mao mạch nhỏ, làm mắt bị ửng đỏ và mấy khoảnh tròn xám đen, khó coi đó là thứ mọi người luôn cố tránh.
• Bàn tay bạn mang nhiều mầm bệnh hơn bất kỳ bộ phận nào khác trên cơ thể. Khi bạn dụi mắt, những mầm bệnh này sẽ dễ dàng truyền sang và gây ra các chứng nhiễm trùng như viêm kết mạc.
• Nhiều người khi có những dị vật vướng vào mắt thì phản xạ tự nhiên sẽ là dụi mắt và cố lấy nó ra khỏi mắt. Đây không phải là ý hay vì dụi mắt đè lên chính dị vật sẽ dễ làm trầy xước vùng giác mạc.
• Dụi mắt là việc làm nguy hiểm nhất với những người đang mang các triệu chứng nhãn khoa xác định trước đó. Những người với chứng cận thị tăng tiến (một loại cận thị gây bởi nhãn cầu bị dài) có thể thấy rằng dụi mắt sẽ làm thị lực của họ tệ hơn. Tương tự, những người với chứng tăng nhãn áp sẽ thấy rằng việc tăng áp đột ngột gây bởi việc dụi mắt có thể sẽ làm gián đoạn lưu lượng máu ra phía sau mắt và dẫn tới tổn hại dây thần kinh, và, sau cùng, mất thị lực vĩnh viễn.
• Đáng lo ngại nhất, những nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc dụi mắt liên tục ở những người mẫn cảm có thể dẫn đến giác mạc bị mỏng đi, vốn sẽ bị suy yếu và đẩy ra phía trước để tạo nên dạng hình nón, được biết đến với tên gọi giác mạc chóp (Ketatoconus), và đây là một chứng bệnh trầm trọng có thể dẫn đến thị lực méo lệch và cuối cùng sẽ cần đến một ca phẫu thuật ghép giác mạc.

Làm sao tôi dừng lại?
Nếu có thứ gì đó vướng vào mắt bạn, cố gắng làm nó trôi ra bằng nước muối vô trùng hoặc nước mắt nhân tạo. Nếu nó không hiệu quả, hãy đến gặp bác sĩ của bạn.

Cách tốt nhất để ngăn không chạm vào vùng mắt của mình là sử dụng thuốc nhỏ mắt để giữ ẩm cho mắt và phòng tránh các cơn ngứa mắt. Nước mắt nhân tạo là một loại giả dược nhưng chúng có thể mô phỏng vô cùng chi tiết hệt như nước mắt tự nhiên. Chúng đang có bán ở tất cả các nhà thuốc và có lợi cho bất kỳ ai đang phải trải qua chứng khô mắt. Những loại thuốc nhỏ mắt cũng có sẵn để ngăn chặn các cơn ngứa mắt, vốn sẽ dẫn đến việc dụi mắt. Những chai thuốc nhỏ này được gọi là chất kháng histamine và chất ổn định các dưỡng bào (mast cell). Trong những ca nghiêm trọng hơn, thuốc nhỏ mắt chứa chất chống viêm steroid có thể được sử dụng để ngăn chặn việc dụi mắt mãn tính, đặc biệt ở những người hay dị ứng.

Việc dụi mắt quá nhiều, dù do mắc chứng khô mắt mãn tính, do cơn ngứa hay chỉ đơn thuần là một thói quen, đều nên được giải quyết để tránh những hiểm họa khôn lường về sau.

Albert Einstein đã trả lời phỏng vấn về chứng khó đọc (Dyslexia)

Nguồn: https://www.ghotit.com/2018/02/einstein-dyslexia

Dưới đây là một bài phỏng vấn thực hiện bởi Ofer Chermesh, nhà sáng lập của Ghotit, một công nghệ hỗ trợ đọc và viết hàng đầu dành cho những người mắc chứng khó đọc, và ông Albert Einstein vốn là người cũng đã gánh chịu những khó khăn trong việc học như bao người nổi tiếng khác, là người gắn với biệt hiệu THIÊN TÀI và cũng là người nổi tiếng nhất thế giới về chứng khó đọc. Mọi điều ông Albert Einstein chia sẻ đều đã được trích dẫn lại chính xác.

Ofer: Cám ơn ông Albert Einstein vì đã tham gia buổi phỏng vấn này. Và cũng rất cám ơn ông vì đã là một thiên tài với hội chứng khó đọc. Một trong những nhận định sai lầm lớn nhất mà mọi người có là đều cho rằng những người mắc phải hội chứng khó đọc sẽ có một trí thông minh kém. Đó hiển nhiên là một điều ngớ ngẩn…
Ông Albert Einstein: “Có hai điều là vô tận: Vũ trụ và sự ngu ngốc của con người; và tôi thì không chắc về vũ trụ”.

Offer: Con trai ông Hans Einstein đã từng được trích dẫn nói rằng “những giáo viên của cha tôi đã nói rằng…ông bị chậm hiểu, không hòa đồng và thường cứ trôi dạt mãi trong những giấc mơ ngớ ngẩn của mình”. Ông diễn tả thế nào về những trải nghiệm ở trường và các giáo viên của mình?
Ông Albert Einstein: “Hầu hết mọi giáo viên đều phí thời gian của mình bằng cách hỏi những câu hỏi với ý định khám phá những điều mà một học sinh không hề biết. Trong khi nghệ thuật đích thực của việc đặt câu hỏi là để tìm ra những điều mà người học trò biết hoặc có thể sẽ biết”.

Ofer: Ông có nhận định gì về những người mắc phải chứng khó đọc vốn là những người đang gặp nhiều trở ngại trong việc học tập ở trường?
Ông Albert Einstein: “Giáo dục vốn là điều còn lại sau khi một người quên sạch những gì anh ta đã học ở trường”. “Điều quan trọng là không dừng lại việc đặt câu hỏi.”

Ofer: Ông biết đấy, Ghotit, công ty mà tôi sáng lập đã trình ra một bộ kiểm tra rất độc đáo cho việc đánh vần và ngữ pháp. Nó cung cấp một giải pháp mà tôi nếu là một người mắc hội chứng khó đọc nặng sẽ mơ về nó cả đời. Ông có lời khuyên nào có thể cung cấp cho Ghotit không?
Ông Albert Einstein: “Sự tưởng tượng thì quan trọng hơn kiến thức. Tri thức là hữu hạn. Trí tưởng tượng thì bao trùm cả thế giới.”

Ofer: Việc phát triển một bộ kiểm tra đánh vần thông minh để cung cấp những gợi ý về từ dựa trên những ngữ cảnh của câu văn liệu có tốn nhiều thời gian hơn dự kiến không?
Ông Albert Einstein: “Khi một người đàn ông ngồi với một cô gái đẹp trong một giờ, nó có vẻ như chỉ là một phút. Nhưng khi để anh ta ngồi trên một cái bếp nóng trong một phút thì nó sẽ dài hơn cả tiếng đồng hồ. Đó là tính tương đối thôi!”

Ofer: Vậy ông thấy gì ở tương lai của Ghotit?
Ông Albert Einstein: “Tôi chả bao giờ nghĩ về tương lai. Nó sẽ sớm tới thôi.”

Ofer: Ông có gợi ý kinh doanh nào cho Ghotit không?
Ông Albert Einstein: “Hãy đừng cố gắng để trở thành một người của thành công, nhưng hãy luôn cố gắng để trở thành một người có giá trị”

Ofer: Ông có lời cuối nào không?
Ông Albert Einstein: “Cuộc đời cũng như việc lái xe đạp vậy. Để giữ lấy thăng bằng anh phải liên tục tiến về phía trước”.

* Chẳng có ai thực sự biết Einstein vốn là người mắc phải chứng khó đọc.
Từ sau khi công bố bài chia sẻ này, chúng tôi đã thấy rất rõ sự phổ biến của nó. Tôi đã luôn tự hỏi vì sao có quá nhiều người mắc chứng khó đọc đã nhìn Einstein một cách đầy ngưỡng mộ như vậy?

Khi có thứ gì đó đi vào mắt bạn, điều gì sẽ xảy ra?

Tác giả: Roger Nunn, bác sĩ từ đại học bang Ohio (1967)
Nguồn: https://www.quora.com/When-somthing-goes-into-your-eye-what-happens-to-it?no_redirect=1

Nếu bạn đang thắc mắc bằng cách nào nước mắt, cùng với những mảnh vụn nhỏ chúng thu thập, có thể được tháo sạch ra khỏi mắt, thì đây là câu trả lời cho bạn.
Nếu, dù sao, bạn đang hỏi về những vật thể từ ngoài lớn hơn nằm trong mắt, một câu trả lời chi tiết hơn cũng nằm bên dưới.
Nó chắc chắn phụ thuộc vào lực tác động đã làm chúng bay vào “mắt”.

Nếu nó chỉ rơi vào, như bụi hay những mảnh vụn, một cái lông mi, phần nào từ cây ké đầu ngựa (cocklebur), côn trùng hoặc những phần tử bay trong gió, nó chỉ nhiều khả năng hoặc lỏng ra hoặc vướng vào vùng kết mạc, vùng túi cùng kết mạc, mặt dưới của mí mắt trên, giác mạc, mi mắt hoặc hiếm hơn, nước mắt sẽ làm chúng trôi về phía góc mũi (Vùng điểm lệ trong mắt)
Nếu nó bị tác động bởi một lực mạnh hơn, nó có thể cũng chỉ dính hờ vào vùng kết mạc, giác mạc, vùng da của mí mắt hoặc phần rìa.

Tuy nhiên, nếu lực vẫn còn lớn hơn nữa [ống dẫn khí, những loại công cụ mạnh mẽ, kim loại hoặc đá tảng, những viên nhỏ nhỏ, tên lửa, đạn, dao, bất kỳ thứ gì], nó có thể sẽ còn xuyên thẳng vào toàn phần nhãn cầu, mọi nơi trong nhãn cầu, hốc mắt và cả não.

Mọi vật thể từ ngoài bay vào mắt đều nghiêm trọng, nhưng nhiều thứ sẽ nghiêm trọng hơn những thứ khác. Một vật thể va chạm nhẹ nhàng cũng có thể làm trầy xước giác mác, và dẫn tới nhiễm trùng nếu không được chăm sóc kịp thời.

Kết nối các dấu hiệu giữa khô mắt và hội chứng Sjogren

Viết bởi bác sĩ Penny A. Asbell.
Nguồn: https://www.eyeworld.org/article-connecting-the-dots-between-dry-eye-and-sjogren-s-syndrome

Một tập hợp các thí nghiệm mới cho hội chứng Sjogren đã buộc các chuyên gia nhãn khoa phải vào cuộc trong việc chẩn đoán chứng khô mắt chính là đặc trưng nổi bật của hội chứng Sjogren và cũng thường là triệu chứng sẽ biểu hiện ra ngoài, nhưng những chuyên gia nhãn khoa rất hiếm khi nghĩ đến hội chứng này trong quá trình chẩn đoán riêng biệt lúc đang chăm sóc cho những bệnh nhân khô mắt. Hội chứng Sjogren khá ít được quan tâm, và chúng ta luôn kỳ vọng các bác sĩ về thấp khớp hoặc những thực tập sinh chăm sóc cho những bệnh nhân sẽ có những chẩn đoán trước đó. Ngược với những gì chúng ta tin, đó là một trong những bệnh tự miễn phổ biến nhất; Có khoảng gần 4 triệu bệnh nhân mắc chứng Sjogren hiện sống ở Mỹ, nhưng chỉ có 1 triệu người trong số đó là đã được chẩn đoán.

Thực tế, chính các chuyên gia nhãn khoa là những người đầu tiên có khả năng chẩn đoán hội chứng Sjogren bằng cách cho kiểm tra chứng khô mắt để giúp bệnh nhân tìm cho mình biện pháp chăm sóc và điều trị phù hợp. Vì hội chứng này vốn là một bệnh miễn nhiễm hệ thống ảnh hưởng lên các cơ quan đặc biệt như tuyến lệ và tuyến nước bọt, làm cho việc chuẩn đoán không chỉ giải quyết được vấn đề các bệnh nhân đang gặp phải mà còn cảnh báo họ về khả năng mắc phải các bệnh liên quan đến các hệ thống khác, ví như phổi và gan. Ngoài ra, hiện có khoảng 5% đến 10% bệnh nhân của hội chứng Sjogren đang phát triển các dạng ung thư máu từ bạch huyết bào (Lymphoma)

Về hội chứng Sjogren
Hội chứng Sjogren được phân làm hai loại, cả hai đều gây tác động lên tuyến lệ và tuyến nước bọt. Hội chứng này ở thời kỳ sơ khai sẽ bao gồm các chứng khô mắt do thiếu nước cùng với chứng khô miệng do sụt giảm lượng nước bọt tiết ra và sẽ được phát hiện khi hệ số focus score (FS) dương tính trên một vùng sinh thiết nhỏ của tuyến nước bọt cùng với những dấu hiệu sinh học khác xuất hiện trong máu.

Loại hội chứng Sjogren thứ hai xảy ra ở những bệnh nhân đang có trong mình một chứng bệnh tự miễn khác, như bệnh Lupus và viêm khớp dạng thấp. Chúng bao gồm các đặc điểm ban đầu của hội chứng Sjogren cùng với những bệnh tự miễn quá mức về mô liên kế, hầu hết là chứng viêm khớp dạng thấp. Hội chứng Sjogren là một căn bệnh gây u sầu cho bệnh nhân vì những triệu chứng khác nhau vốn không rõ ràng. Người bệnh luôn nhận biết rằng họ không khỏe và thường sẽ phải tới lui nhiều lần ở những phòng khám trong nhiều năm.

Người bệnh cũng được cho là hay mắc phải chứng trầm cảm hoặc phải nói dối về các triệu chứng của chính mình vì các y bác sĩ thường thiếu khả năng gắn kết triệu chứng từ bệnh nhân với một chẩn đoán phù hợp. Và kết quả là, thời gian trung bình để đi từ những biểu hiện lâm sàng đến việc chẩn đoán hiện tại đang là 4.7 năm. Thậm chí còn đáng lo ngại hơn, hiện có chừng hơn 90% những bệnh nhân này đã xuất hiện chứng khô mắt như một trong những triệu chứng đầu tiên và thường họ đã tìm đến các chuyên viên nhãn khoa nhiều năm trước khi tìm đến các bác sĩ về thấp khớp. Thêm vào sự rối rắm đó, tiêu chuẩn về việc chẩn đoán đã thay đổi tới 12 lần từ năm 1965. 

Một thời kỳ mới cho việc chẩn đoán
Chúng ta hiện có cơ hội để thu ngắn rất nhiều thời gian chẩn đoán với sự xuất hiện của những xét nghiệm chẩn đoán có căn cứ cho hội chứng Sjogren. Hãng Nicox (Sophia Antipolis, Pháp) đã có được quyền cung cấp độc quyền cho những bác sĩ nhãn khoa và các chuyên viên đo thị lực về một chuỗi xét nghiệm cho hội chứng Sjogren, thứ sẽ cho phép gắn kết những dấu hiệu sinh học được thiết kế độc quyền để phát hiện ra hội chứng Sjogren nhanh hơn nhiều năm so với tiêu chuẩn hiện tại. 

Trường cao đẳng thấp khớp Mỹ hiện đang đề nghị việc sử dụng những kháng thể A mang dấu hiệu sinh học đặc trưng cho hội chứng Sjogren (SS-A), những kháng thể đặc trưng Sjogren B (SS-B), nhân tố thấp khớp (RF) và kháng thể kháng nhân (ANA) cùng với việc sinh thiết ở vùng môi cùng với việc nhuộm màu lên bề mặt mắt bằng các loại thuốc nhuộm chính yếu (Nhuộm fluorescein giác mạc hoặc nhuộm xanh lissamine kết mạc) để chẩn đoán ra hội chứng Sjogren. Việc kiểm tra riêng lẻ những dấu hiệu này sẽ là không hiệu quả, cũng như vài bệnh nhân Sjogren chẳng bao giờ dương tính với SS-A và SS-B, còn ANA và RF thì chỉ có lợi trong việc chẩn đoán ra các bệnh về miễn nhiễm nhưng sẽ không chuyên để xác định hội chứng Sjogren.

Ở nhiều bệnh nhân, những xét nghiệm này sẽ không dương tính cho đến những thời kỳ sau của bệnh. Khi cả 4 thí nghiệm được thực hiện đồng thời, tính đặc hiệu chỉ mới là khoảng 40% đến 60%. Chuỗi thí nghiệm mới cho hội chứng Sjogren chỉ có thể xác định những dấu hiệu sinh học truyền thống hoặc ba tuyến kháng thể nước bọt mới là protein 1 (SP-1), carbonic anhydrat-6 (CA-6), và protein tiết ra ở tuyến mang tai (PSP), để có được độ nhạy và tính đặc hiệu ở vào khoảng 90% với đâu đó 50% số ca mới hoặc sớm được xác định.

Chuỗi thí nghiệm được thiết kế với sự thuận tiện cho một phương pháp thực hiện trong phòng. Đó sẽ là phương pháp mang tính xâm lấn tối thiểu và bao gồm việc lấy ra một ít mẫu máu bởi những chuyên viên nhãn khoa, tương tự như thí nghiệm lượng đường glucose, sau đó chúng sẽ được đặt lên những que thử và gửi đến phòng thí nghiệm trung tâm nơi những dấu hiệu sinh học được phân tích. Kết quả sẽ được trả về trong vòng một tuần, cho ra kết quả và thông tin về việc chuẩn đoán hoặc loại trừ hội chứng Sjogren. Những thí nghiệm này cho phép chúng ta nới rộng những công cụ chuẩn đoán của mình mà không cần đến việc sở hữu và sử dụng một chiếc máy đo phức tạp mới. Nó cũng không đòi hỏi quá nhiều thời gian và công sức của bệnh nhân và cả tiến trình thực hiện. Các người bệnh với những dấu hiệu bệnh mãn tính liên quan đến chứng khô mắt sẽ là hoàn hảo cho việc sử dụng chuỗi thí nghiệm hội chứng Sjogren.

Việc mở đường cho một phương pháp điều trị mới
Một phương pháp chẩn đoán được chứng nhận sẽ bổ sung vào việc định hướng điều trị cho mắt. Khi một bệnh nhân được chẩn đoán mắc phải hội chứng Sjogren, những chuyên gia nhãn khoa, ngoài việc chữa trị các dấu hiệu và triệu chứng về mắt còn có thể chỉ định những hướng đánh giá và hướng điều trị phù hợp tiếp theo bằng cách hướng dẫn người bệnh đến với các bác sĩ chuyên về thấp khớp. Tương tự như ung thư, việc phát hiện sớm hội chứng Sjogren sẽ có thể gia tăng cơ hội được điều trị và ngăn chặn sự phát triển của bệnh và đảm bảo những phát hiện có tính hệ thống khác từ hội chứng này sẽ không bị bỏ qua.

Tương tự như các hình chụp X-quang tuyến vú có thể phát hiện ung thư vú trong khi những phát hiện là vô cùng mờ nhạt và sẽ dễ điều trị hơn với những ca khó và ở vào giai đoạn cuối, chuỗi xét nghiệm có thể giúp phát hiện hội chứng Sjogren khi chúng còn ở những giai đoạn đầu tiên của nó. Hi vọng của tôi là những chẩn đoán sớm về hội chứng Sjogren sẽ có thể dẫn đến hướng phát triển mới cho thử nghiệm điều trị lâm sàng để tạo tác động lên tiến trình phát triển của căn bệnh. Những phương pháp điều trị mới nổi cho hội chứng Sjogren đã kết hợp phương pháp điều trị tập trung vào tế bào B vào các kháng thể đơn dòng vốn được sử dụng trong điều trị viêm khớp dạng thấp, kết hợp cả các phương pháp điều trị tập trung vào tế bào T và những chất ức chế hoại tử khối u từ các phân tử protein tín hiệu (cytokines)

Những bệnh nhân khô mắt và những người mắc phải hội chứng Sjogren thường có cảm giác các nguyên nhân gốc rễ từ những vấn đề của họ thường xuyên bị lãng quên. Sẽ là điều vô cùng quan trọng để hiểu được điều đó từ quan điểm của chính những người bệnh, rằng họ đang phải gánh chịu những triệu chứng mãn tính gây ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của chính mình. Những chuyên gia về nhãn khoa có lẽ đã phần nào ý thức được mối tương quan giữa hội chứng Sjogren và chứng khô mắt nhưng đã đến lúc chúng ta nên vào cuộc để giúp xác định cho ra căn bệnh này. Chúng ta hoàn toàn có cơ hội để tác động tích cực lên đời sống của người bệnh hơn là chỉ chăm sóc họ ở những vấn đề về nhãn khoa.

Liệu sự lão hóa có thể được đảo ngược bằng cách truyền máu từ người trẻ tuổi?

Nguồn: https://bigthink.com/…/can-aging-be-reversed-by-getting-blo…

Tác giả: LAURIE VAZQUEZ
05/08/2016

Những con ma cà rồng và truyền thuyết về Suối Nguồn Tươi Trẻ lại một lần nữa trở thành những huyền thoại sống. Những nghiên cứu mới đây hi vọng sẽ tìm ra được những đặc tính rất riêng của tuổi trẻ đang hiện hữu trong máu những người dưới 25 tuổi. Liệu có gì đó bất hợp lý không?

Ông lớn của thung lung Silocon Peter Thiel là một người vô cùng quan tâm đến sự bất tử. Ông dùng phần nhiều trong mớ tài sản về công nghệ sinh học của mình để tài trợ nghiên cứu nhằm đảo ngược và ngăn chặn hoàn toàn tiến trình suy giảm sinh học hay còn gọi là sự lão hóa. Ý tưởng mới đây nhất của ông là truyền máu từ người trẻ tuổi vào cơ thể chính mình. Nếu nó cứ nghe như kiểu ma ca rồng thời hiện đại thì bạn đúng rồi.

Hầu hết mọi nền văn hóa trên thế giới đều có một phiên bản khác nhau về truyền thuyết ma cà rồng. Trong tất cả những truyền thuyết đó, ma cà rồng buộc phải tiêu hóa máu của người sống để duy trì sự bất tử cho chính mình. Khi loài người sáng tạo ra con quái vật này, một niềm tin vào thứ tính chất “sự sống có thể truyền lại” đang nằm sẵn trong máu đã luôn hiển hiện trong tâm trí chúng ta phải đến cả nghìn năm.

Nhà nghiên cứu đầu tiên nhận ra điều này là Wanda Ruth Lunsford. Cô là một nhà khoa học 26 tuổi đang làm việc ở New York City. Cô sẽ làm một con chuột non và một con đã già ngủ đi và ghép da của chúng. Nguồn cấp máu của bọn chuột liền nối vào nhau, và sau nhiều tuần, con chuột già kia xuất hiện nhiều tế bào thần kinh (neurons) đang lớn dần lên trong não. Nó cũng đồng thời có nhịp tim nhanh hơn, cơ bắp phát triển lớn hơn và mọc ra lông nâu thay vì màu trắng bạc. Những kết quả này làm Lunsford tin rằng máu của tuổi trẻ hoàn toàn có thể đảo ngược tiến trình lão hóa một cách khoa học. Giáo sư David Agus cũng ủng hộ cô gái trẻ này như sau:

Trong khi Lunsford đã bứt khỏi cộng đồng khoa học nhưng các nhà khoa học đã cho rằng những kết luận của cô là vô cùng thuyết phục. Trong năm nay, các phòng thí nghiệm ở Harvard, Stanford và đại học California San Francisco không những thực nghiệm lại thí nghiệm đó mà những kết quả của cô cũng đã được lặp lại. Lý do chính xác cho những kết quả này là chưa hề rõ ràng nhưng thủ phạm nhiều khả năng chính là huyết tương trong máu.

Những thí nghiệm khoa học khác trên chuột đã chỉ ra rằng khi truyền vào chuột già huyết tương của chuột non sẽ giúp cải thiện chức năng cơ bắp, nhận thức và thậm chí là tăng cường khứu giác. Nổi bật hơn, những nghiên cứu đó cũng đã cho thấy khi truyền máu từ chuột già vào chuột non sẽ đẩy nhanh dấu hiệu của lão hóa. Những kết quả đó đã xảy ra dù lũ chuột được phẫu thuật để nối lại hệ tuần hoàn hoặc chỉ đơn giản là tiêm huyết tương, nhưng vẫn cần làm nhiều thí nghiệm hơn để có thể xác định được lý do là gì.

Tuy nhiên, một trong những lý do khiến huyết tương trở thành thủ phạm chủ yếu chính là khả năng vận chuyển những tế bào gốc (stem cell). Tế bào gốc, theo viện Mayo, “là những chất liệu thô trong cơ thể, là những tế bào mà từ đó những tế bào chuyên biệt khác sẽ được tạo thành.” Những tế bào này có thể tạo ra tế bào mới, và chúng “hoặc có thể tự hoàn thiện để trở thành tế bào gốc mới hoặc trở thành những tế bào chuyên biệt (Qua quá trình biệt hóa tế bào_differentiation) với những chức năng cụ thể hơn, ví như tế bào hồng cầu, tế bào thần kinh, cơ tim hoặc xương. Chẳng có tế bào nào khác trong cơ thể lại có khả năng tự nhiên để tạo ra những kiểu tế bào mới như thế.”

Những tế bào gốc là vô cùng quan trọng và mạnh mẽ. nhưng như bác sĩ Agus đã lý giải trong đoạn video phía trên, chúng ngưng tạo mới ở tuổi 25. Đó là lý do vì sao các nhà nghiên cứu đang tập trung vào việc truyền máu từ những người ở dưới độ tuổi này. Một công ty của Mỹ đang theo đuổi dự án nghiên cứu này là Ambrosia, với hi vọng sẽ truyền huyết tương từ người 25 tuổi sang người 35 tuổi. Họ đang hi vọng có thể tìm hiểu những tác động của những tế bào gốc này lên những người lớn tuổi hơn, và đang hi vọng sẽ tuyển khoảng 600 tình nguyện viên. Cũng cho biết thêm rằng họ sẽ thu phí những người tham gia khoảng $8,000 cho mỗi lần tiêm, danh sách những người tham gia có thể sẽ nghiêng về phía cộng đồng dân cư ở Thung Lũng Silicon. Những công trình nghiên cứu tương tự ở Trung Quốc và Hàn Quốc cũng đang theo đuổi hướng nghiên cứu này, mặc dù với chi phí không quá cao.

Khoa học giờ đây có vẻ nghe như tiểu thuyết hơn là thực tế, nhưng không. Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ FDA đã cấp phép cho việc sử dụng máu ngoài chỉ định trong toa thuốc, những kết quả theo đó sẽ không được đảm bảo. Sự cho phép đó, cùng với sự thật rằng phần lớn chi phí cho dự án nghiên cứu lần này đang được tài trợ từ chính Thung Lũng Silicon, sẽ đồng nghĩa với việc máu có thể trở thành một phương pháp điều trị cao cấp chống lại sự lão hóa dành riêng cho giới siêu giàu. Việc đặt loại thuốc này vào tay những người đang trả tiền cho chính sự xuất hiện của nó quả là có vấn đề. Hi vọng rằng, nếu những kết quả hứa hẹn trên có thể đạt được, nhiều công trình nghiên cứu khách quan hơn sẽ nhờ nó mà làm lợi cho tất cả mọi người.

Những sự thật thú vị về giao tiếp bằng mắt

Tác giả: Carol Kinsey Goman
Nguồn: https://www.forbes.com/…/facinating-facts-about-eye-conta…/…

Bạn có biết việc giao tiếp bằng mắt cũng hệt như chuyện cổ tích Goldilocks và ba chú gấu?
Đúng thế.
Quá nhiều giao tiếp bằng mắt sẽ được cảm nhận một cách bản năng là thô lỗ, thù địch và cả sự nhượng bộ. Trong kinh doanh, nó có thể được hiểu là một ý định chủ tâm thống trị, dọa dẫm, chê bai và làm cho “kẻ khác” cảm thấy bất lợi. (Đó là cảm giác khi cô bé Goldilocks bị 3 chú gấu bắt được đang ăn mất cháo của chúng). Vậy, trừ khi bạn cũng đang có ý định làm những điều kể trên, sẽ là tốt hơn nếu ta tránh giao tiếp bằng mắt quá mức như thế.

Quá ít, nói cách khác, sẽ nói lên bạn đang khó chịu, không có sự chuẩn bị tốt và cả sự gian dối. Theo như phân tích từ những lời phàn nàn của chính những người trong cuộc, lấy ví dụ, một bệnh viện lớn cấp quận đã phát hiện ra rằng, 9/10 thư góp ý đều nói về tình trạng thiếu giao tiếp mắt giữa bác sĩ và bệnh nhân; đó là một sự thất bại và nếu phân tích tổng thể thì hoàn toàn có thể hiểu là “thiếu sự quan tâm.”

Chỉ nên giao tiếp bằng mắt ở “một mức độ vừa phải” – Đó là mức độ sẽ tạo ra cảm giác trìu mến và tin tưởng lẫn nhau – vốn sẽ biến chuyển theo từng tình huống hay những khác biệt trong cách sắp đặt, tính cách, giới tính và cả văn hóa. Dù vậy, nếu hiểu cách chung chung, giao tiếp bằng mắt trực tiếp sẽ thường dao động trong khoảng từ 30% đến 60% của toàn bộ thời lượng giao tiếp – nhiều hơn khi bạn đang nghe và ít hơn khi đang nói – hẳn sẽ tạo ra một bầu không khí trò chuyện vô cùng thoải mái.

Và bạn có biết những sự thật khác về việc giao tiếp bằng mắt?

• Giao tiếp bằng mắt tạo ra một luồng sức mạnh vô thức trong lúc giao tiếp, thậm chí đó là mắt được vẽ hoặc chỉ là ảnh chụp. Một sự thật được trình bày bởi những nhà nghiên cứu từ đại học Cornell khi họ đã đưa ánh nhìn của một chú thỏ hoạt hình lên bao bì của nhiều hộp ngũ cốc Trix, sau đó yêu cầu một nhóm người lớn chọn lấy một, và họ phát hiện rằng, đúng như họ dự đoán, những hộp được chọn nhiều nhất là hộp có chú thỏ nhìn thẳng vào mắt người đối diện, hơn là nhìn ra nơi khác.

• Chúng ta sẽ giảm giao tiếp mắt khi nói về một điều đáng hổ thẹn hoặc khi đang ngượng ngùng, khi chúng ta buồn hoặc đau khổ, và cả khi ta đang cố lục lọi những suy nghĩ và cảm xúc nội tâm.

• Chúng ta sẽ tăng giao tiếp mắt khi trò chuyện cùng người ta thích, ngưỡng mộ, hoặc người có ảnh hưởng đến mình. Trong những cuộc trò chuyện thân mật hơn, ta thường nhìn nhau thường xuyên hơn và giữ ánh nhìn đó có phần lâu hơn. Thực ra, chúng ta sẽ đánh giá một mối quan hệ dựa trên chính thời lượng giao tiếp mắt qua lại: Giao tiếp mắt càng nhiều, mối quan hệ đó càng gần gũi.

• So với nam giới, phụ nữ có xu hướng nhìn nhiều hơn khi nói. Đó là một trong những lý do tại sao phái nữ luôn thích trò chuyện mặt đối mặt, trong khi cánh mày râu lại thoải mái hơn khi trò chuyện lúc đang đứng có phần lệch nhau.

• Chúng ta tránh giao tiếp mắt trong thang máy, tàu điện ngầm, trên những chuyến xe buýt hay tàu hỏa đông đúc – Trong thang máy chúng ta sẽ nhìn ra phía cửa, trong những hoàn cảnh còn lại chúng ta hay nhìn chằm chằm vào màn hình điện thoại – vì chúng giúp ta kiểm soát được cảm giác bất an khi vùng không gian riêng tư xung quanh đang bị xâm nhập. Những bồi bàn sẽ tránh giao tiếp mắt với thực khách như muốn nói rằng, “tôi đang rất bận để phục vụ bạn ngay lúc này.” Mọi nhân viên đều sẽ luôn nhìn xuống khi sếp đưa ra câu hỏi khó khăn hoặc lúc ông ấy đang tìm bóng dáng người tình nguyện.

• Sự thật lớn nhất về ngôn ngữ cơ thể của những kẻ dối trá là chúng luôn tránh giao tiếp bằng mắt. Trong khi vài đối tượng nói dối (Thông thường nhất là trẻ em) sẽ thấy khó để làm điều đó khi phải nhìn thẳng vào bạn, rất nhiều kẻ nói dối, đặc biệt là bọn trơ trẽn, lại hay làm quá lên để “chứng minh” rằng chúng đang chẳng nói dối bằng cách dùng quá nhiều giao tiếp mắt và còn giữ như thế rất lâu.

• Nếu một diễn giả chủ động tìm kiếm sự giao tiếp bằng mắt trong lúc trình bày, anh ấy hoặc cô ấy sẽ thường được đánh giá là đáng tin cậy, tự tin và có năng lực hơn.

Giao tiếp bằng mắt là một mãnh lực vô cùng mạnh mẽ vì chúng nối kết với hình mẫu của sự tồn tại ngay từ thuở loài người vừa khai sinh. Trẻ con, vốn là những cá thể có khả năng cuốn hút và duy trì giao tiếp bằng mắt, và vì thế chúng có thể gia tăng sự chú ý từ người khác, sẽ có cơ hội tốt nhất để được nuôi dưỡng và chăm sóc. Ngày nay, các trẻ sơ sinh lại xuất hiện bản năng tránh giao tiếp mắt với những người chăm sóc chúng. Thế nhưng, sức mạnh của ánh nhìn sơ sinh ngày nào vẫn còn giữ nguyên tác động lên tâm trí những người trưởng thành. Dù đó là ánh mắt tinh ranh tội lỗi hay một ánh mắt to tròn thơ ngây, chúng ta đã và sẽ luôn tự động gửi vào đó niềm tin tưởng to lớn về những tín hiệu ta gửi đi hoặc nhận lại khi nhìn thẳng vào mắt nhau.

Carol Kinsey Goman, giáo sư là một diễn giả quốc tế, là tác giả của The Silent Language of Leaders và nhà sáng lập một trong những khóa học phổ biến nhất trên LinkedIN Learning, Body Language for Leaders.

Top 10 quan niệm sai lầm về người mù

Nguồn: http://www.lvib.org/…/top-10-misconceptions-about-blind-pe…/
Tác giả: David W. Wannop

Quan niệm sai về người mù thì vô cùng nhiều, đầy mâu thuẫn, và hầu hết chúng phát xuất từ chính sự pha trộn bởi việc xa lạ người mù và một niềm tin rằng để có thể trải nghiệm sự mù lòa thì tất cả việc cần làm chỉ là nhắm mắt lại. Dưới đây là danh sách những quan niệm sai lầm đó và cách chúng biểu hiện.

1. Người mù có thính giác vượt trội. 
Không đúng. Chúng ta sẽ học cách để có thể tập trung, phân biệt và rút ra vô vàn ý nghĩa từ âm thanh, và sử dụng nó theo những cách sáng tạo. Chúng ta không bị phân tâm bởi những gì chúng ta thấy, nhưng, đây là sự lắng nghe bằng cách chú tâm. Trong bài kiểm tra thính lực thực sự, người mù cũng chỉ nghe được ở mức độ thông thường. Tôi làm trong ngành ca nhạc nên có lẽ vì vậy thính lực của tôi hiện đang ở mức khá thấp.

2. Người mù cần được nói thật lớn hoặc họ sẽ không biết bạn đang nói chuyện với họ. 
Thực tế thì, Tôi thường lơ đi những người ồn ào vì tôi cho rằng làm vậy thật thô lỗ và tầm thường. Nhiều khả năng tôi cũng lơ luôn mấy gã hay to mồm. Giới thiệu bản thân mình một cách chỉnh chu với một âm lượng đủ nghe thôi. Làm thế nào mà những người sáng mắt nghĩ rằng tôi có thể nghe thấy một cây kim rơi ở làng bên cạnh mà lại không thể nghe thấy gì từ người đang đứng ngay trước mặt mình?

3. Hầu hết những người mù là mù hoàn toàn. 
Thực ra, định nghĩa mang tính pháp lý về sự mù lòa trải dài bao gồm một loạt các điều kiện. Vài người thì bị hội chứng “tầm nhìn đường hầm” (Tunnel vision), người khác thì bị tầm nhìn ngoại vi. Vài người thì chỉ đọc được chữ lớn, người khác thì lại có vấn đề về tập trung thị lực. Hầu hết người mù thì thường không mất hoàn toàn thị lực. Tôi có thể nhận thức được ánh sáng. Tôi thường nhìn ra chỗ khác khi gặp ánh sáng chói. Tôi chẳng phân biệt được màu sắc, hình dáng, chi tiết hay chiều sâu nhưng tôi lại có thể biết khi nào mặt trời đang chói lọi hay khi một bóng đèn tròn phát nổ.

4. Tất cả người mù đều đọc chữ nổi (chữ Braille). 
Sự mù chữ ngày nay đang là một vấn đề trong giới người mù. Có hai yếu tố chính làm nên điều này; một là sự thật rằng nhiều đứa trẻ chỉ có thể đọc chữ in lớn dần trở nên mù lòa theo tuổi tác, hơn thế nữa chúng cũng thường chống lại việc học chữ nổi và một người kèm cặp đủ tận tụy thì lại thường không sẵn có. Kế đến, sách audio, sách nói và các phương pháp khác vẫn đang khuyến khích người mù chỉ nghe thay vì phải đọc. Vấn đề ở đây là bằng cách nào não bộ có thể xử lý thông tin và bằng cách nào họ có thể củng cố cho mình những khả năng liên quan đến đánh vần, ngữ pháp và dấu câu, vv. Nhiều người mù vẫn đủ khả năng giải quyết đòi hỏi cao trong công việc dù không biết chữ. Do vậy một lần nữa, nhiều người trong số họ cũng chính đang là những học giả.

5. Hầu hết người mù đều đang học ở những trường chuyên biệt tư thục. 
Điều này đã trở thành trào lưu chính từ những năm 70. Tuy vậy, người mù cũng đã được hòa nhập vào cuộc sống học đường ở các trường học. Đã có những suất học bổng dành riêng cho những ứng viên khiếm thị. Song song đó, trường chuyên dành cho người mù cũng vẫn sẽ tồn tại.

6. Những câu chữ mang tính tượng hình chắc chắn không nên dùng khi nói chuyện với người mù. 
Không đúng; Tôi vẫn dùng những cụm từ như tôi nhìn ra ý bạn rồi, hay hãy xem ta có mường tượng ra vấn đề hay không. Việc dùng những từ tượng hình như nhìn, quan sát, và xem hầu như chẳng liên quan mấy đến cái nhìn thực sự.

7. Hầu hết người mù đều huyền bí hoặc điên rồ. 
Người mù thường dùng những phương pháp đơn giản, tế nhị và thông minh để giải quyết công việc. Họ có thể là thành phần cảm quan của cả một tổ chức, họ biết ứng dụng những công cụ vào một nhiệm vụ nào đó hoặc biểu hiện những giác quan khác nhau nhằm bỏ qua yếu tố thị giác. Tôi dùng khứu giác, việc canh giờ, âm thanh, cộng với những kinh nghiệm đã qua cùng với việc cảm nhận kết cấu bề mặt (texture) khi nấu ăn là một ví dụ. Vì vậy, món ăn của tôi khi ra lò đều đúng ý dù tôi chẳng thể thấy chúng. Đó là một ý niệm về cách người mù hoàn thành mọi thứ bằng một kiểu phép lạ vô cùng tuyệt hảo. Người thường vẫn hay cho như thế. Một kiểu cực đoan khác chính là suy nghĩ nếu ai đó nhắm mắt thì họ không thể nấu ăn, vì vậy, sẽ chẳng ai mù mà có thể nấu nướng được. Sự thật thì những người sáng mắt đang không biết kỹ thuật nấu ăn mà không cần dùng đến thị giác hoặc bất cứ phương cách mù lòa nào khác. Sự mù lòa chính là tổng hòa của tri thức và thực hành. Tôi sẽ dùng kinh nghiệm là một người mù trong hàng thập kỷ để chống lại bất kỳ ai đơn giản chỉ nhắm mắt và thử làm một việc chung chung nào đó.

8. Tất cả người mù đều yêu nhạc, chơi nhạc và vô cùng biết ơn nó. 
Tôi làm việc trong ngành phát triển tài năng, sắp xếp chương trình và những lĩnh vực âm nhạc có liên quan khác. Tôi không thực sự chơi nhạc. Tôi đã từ chối những khách hàng khiếm thị với cùng lý do khi tôi từ chối những khách hàng sáng mắt. Hơn thế nữa, tôi đã từng gặp những fan ca nhạc khiếm thị của dòng nhạc metal, đồng quê hay opera mà chẳng hề có chút say mê nào đến cái gọi là nhạc. Cũng như những khía cạnh khác, mù lòa chỉ là một đặc điểm chứ chẳng phải một thứ để có thể giúp phân biệt hoàn toàn. Vì vậy, hãy xem một người mù cũng gần tương tự theo thống kê đâu đó với những người khác mà thôi.

9. Đếm bước là cách hiệu quả để có một hành trình an toàn. Chà, nếu tôi đang mang một cái ba-lô nặng, hoặc nếu tôi đang lê bước với một mắt cá chân bầm tím, hoặc giả như nếu tôi dừng lại nói chuyện cùng một người bạn, thế thì tôi đang ở đâu nếu tôi phải đếm bước? Tôi đi gần cả dặm tới chợ người Ý. Thế là bao nhiêu bước chân? Thế đi đường vòng thì sao? Đếm bước là một điều ngớ ngẩn. Nó như kiểu tìm đến nhà bạn bè bằng cách ước đoán bánh xe sẽ lăn bao nhiêu vòng trên mặt đường ngoài kia. Những điểm mốc chính là cách giải quyết. Tôi đếm những con đường, tôi nhớ nhiều thứ hỗ trợ ví như cây cối, đường xá, những chỗ ngoặc vỉa hè và những thứ tương tự, nhưng đếm bước thì chẳng thể hiệu quả chỉ sau khoảng mười bước chân. Bất kỳ ai từng thử đếm bước để tìm kho báu được chôn giấu đều thừa biết điều đó.

10. Chó dẫn đường biết một triệu địa điểm và có thể làm theo cả nghìn chỉ thị. 
Hầu hết, một chú chó dẫn đường chỉ hiểu thêm từ 4 đến 6 chỉ thị mà chó thường không biết. Đi thẳng, trái, phải, dừng lại và trong số đó. Bạn không nói với chó đưa bạn tới nhà hát và nó sẽ đơn giản làm theo. Người mù cần phải định hướng. Cứ phó thác tất cả cho chó và bạn sẽ không bao giờ có thể khám phá thế giới qua khỏi cột chữa lửa gần nhất. Tiện thể, người dẫn đường thì nhiều khả năng được sử dụng hơn, họ còn dễ chăm sóc và cũng sạch sẽ hơn. Tôi không cho chó dẫn đường vào căn hộ của mình. Fraulein Feline sẽ không thích.

11. Nói thêm, và cũng vô cùng quan trọng, hầu hết người mù đều đang tìm kiếm sự chữa trị. 
Với những người mù còn trong độ tuổi lao động, phần lớn họ không vấn đề gì với sự mù lòa của chính mình. Nó chỉ là một phần giúp nhận diện bản thân họ cũng như màu da tối, quốc tịch Canada hoặc là một sĩ quan quân đội có thể xem là một đặc điểm nhận dạng nổi bật. Họ muốn được đối xử tốt hơn, và hầu hết bọn họ đều rất muốn tạo ra tác động lên con số 75% của tỉ lệ thất nghiệp và bán thất nghiệp (công việc không dùng hết khả năng của nhân viên), thứ đang làm xấu đi bảng xếp hạng của chúng ta. Nhiều giám đốc và chuyên viên nhân sự sẽ chọn không giới thiệu việc làm cho một người khiếm thị thậm chí khi phần tham khảo, trình độ học vấn và kinh nghiệm của họ đều đã vô cùng xuất sắc.
____________________________________

Danh sách này được viết độc quyền bởi David W. Wannop, một phóng viên âm nhạc, nhà phát triển tài năng, nhà sắp xếp và tổ chức chương trình hiện sống ở Center City Philadelphia.

Đục thủy tinh thể (Cataract)

Nguồn: https://www.hollows.org/au/eye-health/cataract

Nửa số ca mù lòa trên toàn thế giới hiện đang được quy cho đục thủy tinh thể (hay cườm khô). Tuy vậy, mù lòa do đục thủy tinh thể có thể được chữa trị hoàn toàn dứt điểm chỉ bằng một ca phẫu thuận kéo dài không quá 20 phút. Quả là không may khi đâu đó đang có tới cả triệu bệnh nhân vẫn chưa thể có được điều ngỡ như giản đơn đó.

Đục thủy tinh thể là gì?
Cườm khô chính là nguyên nhân hàng đầu gây ra các biến chứng mù lòa trên toàn thế giới. Khi ai đó đang phải gánh chịu đục thủy tinh thể, thì hẳn đã có một màn mây bao trùm lên toàn bộ phần “ống kính” vốn rất sáng rõ trong mắt chúng ta. Điều đó rồi sẽ gây ra suy giảm thị lực tương đối. Đục thủy tinh thể có thể xảy đến với một hoặc cả hai bên mắt.

Những giai đoạn đầu của cườm khô có thể sẽ chưa gây ra giảm thị lực và dường như mắt vẫn có thể nhìn mọi thứ một cách rất bình thường. Dù vậy, người bệnh vẫn có thể xuất hiện những triệu chứng khác như nhạy sáng, tầm nhìn mờ, hiện tượng màu nhạt phai và khó khăn hơn trong việc đọc.

Khu vực con ngươi vốn màu đen trong suốt thông thường sẽ trở thành màu xám, vẩn đục đi như đám mây màu sữa cho đến khi phần đục thủy tinh thể phát triển hoàn toàn. Khi đó, nó sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống cá nhân nơi người bệnh, vì họ chỉ còn phân biệt được sáng và tối.

Ai là người phải gánh chịu căn bệnh này?
Trong khi đục thủy tinh thể vẫn thường được hiểu như một dấu hiệu của sự lão hóa, một vài người vẫn mắc phải nó khi tuổi đời vẫn chưa quá cao. Vài đứa trẻ vẫn được sinh ra với hội chứng này (đục thủy tinh thể bẩm sinh) và trong những trường hợp đó, sự phát hiện và điều trị sớm là điều cực kỳ hệ trọng để phòng tránh những hậu quả về lâu dài.

Cũng như sự di truyền, một vài nguyên nhân khác có thể dẫn tới tình trạng mắt bị cườm khô có thể kể đến như những tổn thương về mắt, phơi nhiễm dưới ánh nắng, tiểu đường, rối loạn gen hay quá trình mất nước ở trẻ nhỏ trong lúc chúng mắc phải các bệnh lý như nhiễm trùng tiêu chảy nặng hay sốt cao, và bao gồm cả tác dụng khi dùng một vài loại thuốc nào đó.

Hầu hết những người với tình trạng suy giảm thị lực trầm trọng do đục thủy tinh thể đều là công dân ở những đất nước còn đang phát triển. Điều này sẽ là cực kỳ bất tiện vì mọi thứ từ công việc, học tập và cuộc sống gia đình của họ sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, dẫn đến việc họ sẽ khó thoát khỏi vòng tròn luẩn quẩn của sự nghèo đói. Trong một vài trường hợp, họ thậm chí còn phải chết trẻ. Do đó, tác động của hội chứng đục thủy tinh thể dường như đang là một sự bất công không thể lý giải vì đây là một căn bệnh mà phương pháp điều trị an toàn, hiệu quả và không mấy tốn kém hiện đã và đang sẵn có nơi những vùng phát triển hơn trên thế giới.

“Phẫu thuật cườm khô là một trong những phương pháp y khoa thành công và tiết kiệm nhất mọi thời đại.”
– Ngân hàng thế giới.

Việc điều trị đục thủy tinh thể
Những dịch vụ nhãn khoa tốt là điều cực kỳ hệ trọng trong việc phát hiện và điều trị cườm khô. Trong khi những người không phải chuyên gia nhưng được đào tạo tốt vẫn hoàn toàn có thể nhận biết một người nào đó đang cần được phẫu thuật cườm khô qua việc rọi mắt bằng một đèn pin đơn giản, thì những việc như kiểm tra tiền phẫu thuật hay chính việc thực hiện phẫu thuật sẽ phải đòi hỏi trang thiết bị và kỹ thuật chuyên môn sâu.

Việc phẫu thuật sẽ là cần thiết khi tình trạng đục thủy tinh thể bắt đầu ảnh hưởng lên đời sống hàng ngày của người bệnh. Thông thường, người mắc bệnh không cần phải chờ đến khi cườm khô đã phát triển hoàn toàn mới bắt đầu thực hiện hồi phục thị lực. Việc chăm sóc và theo dõi sau phẫu thuật có thể được hỗ trợ thường xuyên gần nhà. Do đó, quỹ Fred Hollows sẽ giúp hỗ trợ để nhiều bệnh nhân hơn có thể tiếp cận với các dịch vụ có sẵn như vậy.

Cườm khô sẽ được điều trị tận gốc một lần qua một cuộc tiểu phẫu kéo dài 20 phút, thực hiện bởi bác sĩ nhãn khoa ở hầu hết mọi quốc gia. Cuộc phẫu thuật sẽ giúp lấy đi lớp màn vẩn đục trong thủy tinh thể của mắt và cấy vào đó một miếng thủy tinh thể nội nhãn mới (Intraocular lens hay IOL). Hiệu quả của cuộc phẫu thuật sẽ được thể hiện ở từng con mắt được điều trị. Do vậy, những hình ảnh từ xa sẽ được kéo gần lại và tập trung ngay vào vùng võng mạc và bệnh nhân sẽ có thể nhìn thấy rõ mọi thứ chỉ trong vài giờ sau phẫu thuật. Bệnh nhân sẽ cần được uống thuốc và chăm sóc vài tuần sau đó cho đến khi mắt họ bình phục hoàn toàn.

Một mơ ước của bác sĩ Fred là có thể mang đến cho thế giới những miếng IOL giá rẻ. Một phần của quỹ Fred Hollows trong những ngày đầu đã là xây dựng những nhà máy sản xuất IOL ở Eritrea và Nepal để giảm bớt giá thành cho một cuộc phẫu thuật cườm khô ở những đất nước còn đang phát triển. Từ khi thành lập, những nhà máy này đã cung cấp ra hơn 4 triệu miếng thủy tinh thể. Việc giảm bớt giá thành những tấm IOL đồng nghĩa với việc ở một vài quốc gia, chi phí cho một buổi phẫu thuật cườm khô có thể sẽ giảm xuống tới con số $25 (Tức chưa đến 600,000 VND)

Liệu cườm khô có thể được phòng tránh?
Hiện tại, vẫn chưa có một phương pháp y khoa hiệu quả nào có thể phòng tránh được cườm khô hoặc làm chậm đi tiến trình của nó. Tuy nhiên, cườm khô có thể được phẫu thuật trước khi thị giác của bệnh nhân giảm đi dẫn đến tình trạng mù lòa.

Ở những đất nước đang phát triển, điều hệ trọng trong việc ngăn chặn tình trạng mù lòa do cườm khô là cải thiện quá trình giúp người bệnh có thể tiếp cận được với những dịch vụ chăm sóc mắt thật sự chất lượng. Bằng cách này, họ có thể có được những lời khuyên tốt nhất về thời điểm cần làm phẫu thuật lẫn những dịch vụ chăm sóc đang có sẵn trước và sau phẫu thuật.

Việc ngăn chặn đục thủy tinh thể vẫn đang là một thách thức không hề nhỏ cho ngành y tế cộng đồng khi nhìn vào số lượng người đang phải chịu ảnh hưởng lẫn tình trạng thiếu hụt cơ sở vật chất phục vụ cho việc điều trị ở những đất nước còn đang phát triển. Tuy nhiên, chúng tôi đã tìm ra giải pháp. Chúng tôi đã mang lại ánh sáng cho hơn hai triệu rưỡi người từ khi quỹ Fred Hollows ra đời và chúng tôi vẫn chưa có ý định sẽ làm nó chậm lại.