Tôi nói gì khi nói về chạy bộ?

Nếu bạn đã từng xem qua tác phẩm cùng tên trên của Haruki Murakami, hẳn sẽ còn nhớ câu:

“Hầu hết những người chạy bộ chạy không phải vì họ muốn sống lâu hơn, mà vì họ muốn sống trọn vẹn nhất. Ngay cả khi ta chỉ định sống cho qua ngày đoạn tháng thì vẫn sẽ tốt hơn nhiều nếu sống những năm tháng ấy với những mục đích rõ ràng và sống động trọn vẹn thay vì bối rối hoang mang, và tôi tin chạy bộ sẽ giúp ta làm được điều đó. Hãy gắng hết sức trong giới hạn cá nhân của bạn: Đó là bản chất của việc chạy, và cũng là một phép ẩn dụ cho cuộc đời.”

– Haruki Murakami

Với tôi, việc chạy bộ cũng tựa như hình ảnh tự đấm vào mặt mình xem đến khi nào thì ngã gục. Thỉnh thoảng, tôi vẫn nghĩ lý do phía sau vốn làm ta luôn sợ hãi việc chạy hoặc chỉ dám ra công viên và miệt mài đi bộ đánh tay ngày qua ngày vì chúng ta đã luôn mặc định ta không thể chạy, ngay từ đầu. Cũng như câu nói cửa miệng của không ít người rằng ta không biết hát hay không thể vẽ vời vậy. Ta thậm chí còn chưa dám nghiêm túc xỏ giày vào và thử, hoặc ta nghĩ ta đã dám thử nhưng đó chưa thực sự là thử, nghĩa rằng ta có chạy nhưng lại tự nhủ ngay từ đầu rằng đây không phải thứ dành cho mình. Và rồi, bạn cũng biết rồi đấy, mọi thứ rồi đâu sẽ lại vào đó, ta vẫn sẽ bỏ cuộc, vì ta đã muốn bỏ cuộc, hệt như bất cứ thứ gì khác xảy đến với cùng cách nghĩ. Tôi luôn tin rằng, dù nghe qua có vẻ ngược ngạo, cuối cùng ta sẽ chỉ đơn giản sẽ có được điều ta muốn, dù đó là bất cứ thứ gì, đó chẳng phải là thứ chân lý mà Henry Ford đã nói cách đây hơn nửa thế kỷ rồi sao?

Dù bạn có là bao nhiêu tuổi đi nữa thì câu hỏi này có lẽ vẫn luôn đúng cho mọi người: Liệu ta có đang sợ phải thử thứ gì đó mới, từ việc thử ăn một món mới, chơi một môn thể thao mới, một nhạc cụ mới, đến việc về nhà bằng một con đường lạ, nói xin chào với một người không quen hay thậm chí là sống ở một miền đất xa xôi và cả học cho mình một ngôn ngữ mới, … Hay từ khi nào ta đã không còn muốn phải thử bất cứ thứ gì nữa, thậm chí ta còn cho rằng cuộc sống này chỉ như mỗi cuốn phim tua đi tua lại đều đặn đến phát chán như thế, 24 giờ một ngày và 7 ngày một tuần, không hơn không kém. Phải chăng có lẽ ta đã chưa hề thấu được một trong những phát ngôn huyền thoại của triết gia Heraclitus, rằng “không ai tắm hai lần trên một dòng sông.” Để rồi, ta lại chợt ngộ ra rằng, bản chất của mọi thứ vốn chưa bao giờ là cũ kỹ, mỗi ngày mới chỉ là một lần trái đất quay quanh trục của chính nó và mỗi sự vật hiện hữu lại có cho mình cái ta gọi là thời-gian-một-ngày để sống và tìm kiếm những cung bậc xúc cảm. Đó là bí mật lớn nhất và cũng là đơn giản nhất của cuộc sống… Vậy, từ khi nào ta đã chọn chỉ tồn tại và hít thở cho qua ngày đoạn tháng, thay vì chọn sống?


Ta cũng vốn không hề già như ta vẫn nghĩ. Người trăm tuổi chỉ giản đơn là người đã ở đây qua được 100 lần trái đất quay quanh quỹ đạo mặt trời. Bản chất rằng sự vật không hề có tuổi và cũng chẳng hề có tên. Và cũng sẽ chẳng ai biết điều gì đang thật sự xảy ra, tất cả chỉ là võ đoán và suy luận. Anh có thể nhìn thấy mọi thứ trên đời trừ chính anh, thứ anh đang nhìn thấy trong gương chỉ là hình ảnh phản chiếu của anh mà thôi. Nói rộng ra, khi anh có thể quan sát được chính mình thì giây phút đó anh không hề là anh nữa. “Một cái não không thể lý giải cho chính nó” dù nó có thể lý giải vô vàn thứ gì đó khác, là như vậy. Thượng đế có lẽ sẽ biết mọi thứ trừ nguồn gốc của chính Ngài. Bí mật của mọi bí mật là sẽ luôn có một bí mật. Thế thì có ai biết nhiều hơn ai, hay ai là thông thái hơn ai. Bạn không ở đây để hoàn thành một cuộc đời, bạn ở đây đơn giản để khám phá nó, thêm một lần nữa. Bạn đã chọn đến đây để thả mình vào những trải nghiệm để tìm kiếm cho mình những cung bậc cảm xúc mới, như một dòng suối lặng thầm chảy luồng qua vách đá rồi sẽ lại đổ vào cùng một đại dương xanh bao la mà thôi.

Nói về cảm giác ban đầu của việc chạy, đa phần người bắt đầu chạy sẽ hay nản vào mỗi khi bàn chân họ chạm đất một cách ì ạch. Do lâu ngày không vận động nên đi theo mỗi nhịp chân là một lần từng thớ thịt và từng lớp ba rọi treo lủng lẳng quanh bụng và đùi lại có dịp xúc xổ như chưa từng liền một thớ. Và tim họ lại đập nhanh đột ngột, hơi thở gấp gáp dần và tâm trí thì liên tục biểu tình và buộc họ phải ngừng trò ngớ ngẩn này lại. Và đó là khi bản thân họ phải đối mặt với một lựa chọn chông gai: Chấp nhận gian khó để thay đổi hay sẽ chọn lấy dễ dàng để chỉ tồn tại?

Hay cả khi giữa đường chạy ta lại lên cơn đau buốt cơ đầu gối, mỗi bước chạy ấn xuống giờ đây là một nhát búa vào đầu gối. Giây phút đó, ta không còn mong chiến thắng bất kỳ ai khác nữa, kẻ thù duy nhất và hùng mạnh nhất giờ đây chính là bản thân ta cùng tiếng nói của một kẻ hèn nhát. Và đó là khi ta phải tiếp tục đưa ra sự lựa chọn: Bỏ cuộc hay tiếp tục tiến lên?

Và nếu ai đó có hỏi vì sao tôi chọn chạy, tôi cũng sẽ nói hệt như Haruki, có lẽ vì đó mãi sẽ là ẩn dụ cho cuộc đời, bạn còn chạy là bạn còn sống. Hay nếu ai đó hỏi khi chạy tôi hay nghĩ gì, có lẽ, tôi đã chẳng nghĩ gì cho cụ thể. Đúng ra thì tôi chẳng nhớ gì nhiều.


Khi chạy, mọi suy tưởng sẽ đều có xu hướng tan biến, cả những ưu tư về quá khứ lẫn những hoài vọng cho một tương lai. Thứ còn lại thực hiện hữu có chăng đang là những lựa chọn còn văng vẳng bên tai mà ta phải liên tục quyết định. Chính điều đó đã làm cuộc sống này trở nên trọn vẹn theo từng khoảnh khắc. Mọi thứ ta nhìn nhận có lẽ chỉ nên trần trụi như chính sự tồn tại của nó, trước cả khi ta phải sử dụng đến các giác quan của mình để học biết về thế giới xung quanh và hình thành cho mình thế giới quan cá nhân. Đó phải chăng cũng là lý do tiếng Mỹ tạo ra từ pre-sence để chỉ về một thực tại, thứ mà các thiền sư đã và đang luôn dạy bảo ta hãy sống cùng đến mức trọn vẹn. Và đó là bản chất, là cái đạo của chạy bộ.

 

Tại sao lũ thiêu thân lại bị cuốn vào ánh đèn nhân tạo?

Bởi Natalie Wolchover | 25/03/2011
Nguồn: https://www.livescience.com/33156-moths-drawn-artificial-lights.html

Người xưa có câu “Như thiêu thân lao vào ngọn lửa” là để miêu tả ai đó với một mãnh lực tự hủy hoại chính mình một cách khó cưỡng. Cái mà mọi người quan tâm, thứ động lực cơ bản cho hành vi loại này có thể được xác định, cho dù đó có là lòng tham đi chăng nữa, thường chính là dục vọng hoặc sự phấn khích trong một trò chơi đuổi bắt.

Lũ thiêu thân thì không như thế. Có cả mớ lý thuyết minh chứng cho tại sao các loài côn trùng lại thực hiện cú bổ nhào tự sát vào thẳng những ngọn nến đang cháy và cả những bóng đèn nhân tạo kia. Nhưng, có lẽ cũng thật bất ngờ, tất cả chỉ có thế thôi – chỉ là những dự đoán. Và cũng chẳng có cái nào là đặc biệt đúng cả.

Một vài nhà côn trùng học tin rằng lũ thiêu thân lao mình về phía những ngọn đèn giả là vì ánh đèn đã đánh lạc hướng chúng khỏi những hệ thống định vị nội tại. Rốt cuộc, những chú thiêu thân đã không hề lượn quanh những ánh đèn sáng chói; mà chúng sẽ định hình cùng lúc khi tất cả ánh sáng trên mặt đất chỉ còn đến từ những hành tinh xa xôi như mặt trời, mặt trăng và các vì sao. Với một hành vi mang tên sự định hướng nằm ngang, một vài loại côn trùng đã tìm ra hướng bằng cách bay ở một góc cố định tương quan với nguồn sáng ở phía xa, ví như mặt trăng.

Nhưng xung quanh những ánh đèn nhân tạo, ví như một bếp lửa trại hoặc ánh sáng hiên nhà, góc đến nguồn sáng sẽ thay đổi khi thiêu thân bay ngang qua. Điều này làm chúng bối rối. “Điều đáng suy nghĩ rằng chúng sẽ trở nên lóa mắt và cách nào đó bị cuốn vào trong,” Jerry Powell nói, một nhà côn trùng học tại đại học California, Berkeley, người chuyên nghiên cứu về các loài thiêu thân.

Tuy nhiên, lý thuyết này cũng đụng phải một vài vấn đề. Những bóng đèn tròn có thể còn là mới so với khung thời gian tiến hóa, nhưng những đám lửa trại thì đã xuất hiện được khoảng đâu đó 400,000 năm. Chẳng phải chính sự chọn lọc tự nhiên đã loại đi lũ thiêu thân thứ mà bản năng đã mách bảo chúng thực hiện chuyến bay cảm tử cứ mỗi khi chúng bị che mắt bởi ánh sáng sao?

Hơn nữa, loài thiêu thân có thể thậm chí đã không sử dụng sự định hướng nằm ngang. “Ngay từ đầu tôi đã nghi ngờ về ý tưởng cho rằng chúng đang sử dụng ánh trăng như một thiết bị định hướng,” Powell phát biểu với tờ Những Bí Mật Nho Nhỏ Của Cuộc Đời. “Đó chỉ có thể được thực hiện bởi những loài di cư – trong tiến trình này chúng có thể cách nào đó sử dụng ánh trăng. Nhưng điều đó sẽ không lý giải được tại sao 50 hay 70 phần trăm số thiêu thân cỡ nhỏ và không di cư cũng sẽ chọn sử dụng ánh trăng để dò tìm đường đi.”

Một giả thuyết hoàn toàn khác đã lần đầu được đưa ra thảo luận vào những năm 1970 bởi Philip Callahan, một nhà côn trùng học sau đó làm việc cho bộ nông nghiệp Mỹ. Callahan đã khám ra rằng chùm sáng hồng ngoại tỏa ra từ ánh sáng đèn cầy cũng chứa đựng một vài tần số tương tự với thứ ánh sáng sản sinh ra bởi pheromone từ con thiêu thân cái, hoặc hoocmon sinh dục. Callahan trước đó đã phát hiện ra rằng chất pheromone có thể phát quang dù ánh sáng là rất mờ nhạt.

Nói ngắn gọn, lũ thiêu thân đực bị cuốn hút vào những ngọn đèn cầy bằng một niềm tin sai lầm rằng đó chính là thiêu thân cái đang gửi đi tín hiệu tình dục. “Thiêu thân đực đã bị cuốn vào một cách mãnh liệt và chịu chết khi cố gắng làm tình với ngọn lửa đèn cầy,” như Callahan đã viết trên một bài báo năm 1977 của tờ Quang Học Ứng Dụng.

Giả thuyết này cũng có lỗ hổng của nó. Theo như Powell, ánh sáng cực tím vốn hấp dẫn các loài côn trùng hơn rất nhiều, bao gồm cả loài thiêu thân, hơn là ánh sáng hồng ngoại. Và cũng chẳng có lý do gì ánh sáng cực tím lại gợi nhắc thiêu thân về vấn đề tình dục; nó chẳng chứa đựng cùng loại bước sóng với thứ pheromone mà chúng phát ra.

Những nhà côn trùng học đã tìm ra rằng loài thiêu thân ít bị cuốn vào ánh sáng nhân tạo trong suốt những tuần trăng tròn so với những tuần trăng non, và quan sát này đã lại dấy lên một giả thuyết khác nữa. “Người ta hay cho rằng bạn sẽ không tóm được nhiều thiêu thân với đèn cực tím vào lúc trăng tròn vì tất cả chúng đã bay về phía mặt trăng,” Powell đã nói. “Nhưng đó quả là hài hước, vì chúng không thể tiếp tục vòng đời nếu bay về phía mặt trăng.”

Và thực sự, khái niệm này đã bị chứng minh là sai. “Một nghiên cứu thực hiện ở Scandinavia đã tìm ra rằng không phải chúng đã không bị cuốn về phía ánh sáng nhiều khi trăng sáng, đó là vì chúng không được tỉnh táo cho lắm khi ánh sáng không chịu tắt đi nhiều vào ban đêm,” Ông ấy nói. Thông thường, ông lý giải, thời điểm màn đêm buông xuống và bóng tối đã khởi điểm cho hoạt động của loài thiêu thân.

Vì vậy, chẳng có lý thuyết nào là có vẻ thuyết phục. Tại sao thiêu thân lại “như thiêu thân lao đầu vào lửa?” Cho đến hiện tại, câu hỏi đó hẳn vẫn còn là một bí ẩn nhỏ mà lớn của cuộc sống.

Bạn có mua nhiều sách hơn bạn đọc? Người Nhật có một từ cho chuyện đó

Nhiều lúc sự thiếu vắng ngôn từ chỉ là sự thất bại về mặt tưởng tượng mà thôi.

DEREK BERES

12/8/2018

Nguồn: https://bigthink.com/21st-century-spirituality/buy-more-books-than-you-ever-read-the-japanese-have-a-word-for-that

Để xem nào. Bắt đầu từ đâu nhỉ.

Có một ấn bản từ cuốn Những hình thức ban sơ trong đời sống tôn giáo của Durkheim tôi tìm được trong một tiệm sách cũ ở Arizona. Dù tôi đã đọc ba cuốn cuối cùng của Antonio Damasio, tôi vẫn đang giữ cuốn Đi tìm Spinoza, vẫn chẳng đụng đến. Gần cái kệ là cuốn Tại sao các quốc gia thất bại, vốn là cuốn tôi định rớ tới, dù thậm chí tôi cảm thấy chính mình đang thực sống qua những ngày tháng đó; cũng giống như Cò quay Nga (Russian Roulette). Tôi cũng đã đọc được 200 trang trong cuốn Nguồn vốn của Piketty trước khi bị xao nhãng.

Là một kẻ cuồng sách, tôi cố gắng ngốn lấy mọi thứ trong bộ sưu tập của mình. Tôi đã quyên góp số sách nhiều hơn lượng tôi nắm giữ, vì vấn đề không gian mà thôi. Dù vậy, hàng trăm đầu sách trong văn phòng của tôi vẫn chiếm trọn lấy căn phòng, cũng như phòng ngủ và phòng khách của mình, nơi vẫn có một vài ấn bản của chúng nằm lẫn vào với thư viện của vợ tôi. Giá như có một từ nào đó để diễn tả hết mớ sách chưa đọc này để tôi khỏi phải thốt ra rằng, “Ồ, tôi vẫn chưa đọc cuốn đó nữa” khi bất kỳ lúc nào có ai đó hỏi về một số xuất bản cụ thể.

Tác giả và là nhà sưu tập sách A. Edward Newton đã có một cách diễn tả khá tỉ mỉ để bộc lộ tình yêu của ông đến những trang sách chưa từng được mở ra như sau:

Thậm chí khi việc đọc là điều không thể, sự xuất hiện của những cuốn sách tìm được đã tạo ra một thứ cảm giác ngây ngất mà những ai mua nhiều hơn số sách họ có thể đọc không gì khác hơn là khi linh hồn được chạm tới bến bờ vĩnh cửu… chúng ta yêu mến sách thậm chí dù chúng chưa được đọc, chỉ riêng sự có mặt của chúng thôi đã tạo ra một nguồn an ủi, sự an tâm trở lại rằng chúng vẫn có thể sẵn sàng được tìm đến.

Nhập vào một từ tiếng Nhật: tsundoku. Phiên dịch thô sẽ là “Hãy để cho những chất liệu đọc được chất cao lên dù không đọc chúng.” Đây là một trong những từ chính xác nhất để nắm bắt lấy trọn thứ cảm xúc mà chúng tôi là những người Mỹ, đã không có từ nào để diễn tả, cùng với từ tiếng Đức là schadenfreude. Một vài viên đá quý khác có thể kể đến:

Kummerspeck: Nghĩa rằng “thịt xông khói buồn rầu”, người Đức đã lại thành công khi dùng nó để diễn tả cân nặng dư thừa mà bạn phải gánh lấy từ việc nạp thêm nhiều thức ăn khi đang có tâm trạng.

Tartle: Một từ của xứ Scots để diễn tả sự hốt hoảng bạn cảm thấy khi chợt quên tên ai đó trước khi phải giới thiệu họ. Tôi sẽ phải dùng từ này thường xuyên trong tương lai.

Iktsuarpok: Những người bản địa Eskimo cảm thấy sự tham gia của việc chờ đợi một ai đó xuất hiện nên có cho chính nó một cái tên. Tuyệt vời.

Pelinti: Nếu bạn đang ở Ghana và bị phỏng họng sau khi cắn phải miếng pizza nóng (hoặc bất cứ món gì), bạn có thể kêu lớn lên cảm giác khó chịu này bằng ba tiếng. Cho đến tận ngày nay, cách hùng hồn nhất để diễn tả điều này lại đến từ lời bài hát cùa Nas: “Về đêm/New York/ ăn một miếng quá nóng/ dùng lưỡi của tôi để xé rách miếng da đang treo lủng lẳng trên vòm họng.”

4 điểm bấm huyệt tốt nhất để có thị lực tốt hơn

8/2/2019 bởi Chetana

Nguồn: https://www.stylecraze.com/articles/best-acupressure-points-for-better-eye-sight/#gref

Bạn có thường cảm thấy mỏi mắt? Và nó có làm bạn cảm thấy cần đi cắt kính hoặc trải qua một vài phép trị liệu nào đó không? Chúng ta đều biết đôi mắt chính là cửa sổ nhìn ra thế giới. Dù vậy ta vẫn thường hay bỏ quên chúng và đang phải gánh chịu một thị lực nhòe nhòa, chứng đau mắt và vô số căn bệnh khác liên quan đến mắt.

Và rồi, có một kỹ thuật đơn giản có thể làm mắt bạn khỏe trở lại! Chúng ta đang nói đến kỹ thuật bấm huyệt. Bạn có muốn biết thêm không? Hãy đọc bài này nhé!

Bấm huyệt – Tóm tắt:

Bấm huyệt là một phép trị liệu cổ xưa được sử dụng trong điều trị nhiều chứng bệnh khác nhau. Nó đã được tuyên bố là một môn khoa học cổ vốn xoay quanh các kinh mạch nơi các dòng năng lượng chảy qua khi chúng gặp phải vật cản trở hoặc khi năng lượng đổ dồn về một vài điểm. Khi có sự tắc nghẽn như thế xảy ra, những tọa độ này sẽ cảm thấy đau nhức và gây ra nhiều chứng bệnh khác nhau. Người ta cho rằng bấm huyệt sẽ giúp khai thông các rào cản này hoặc sẽ tổ chức lại dòng năng lượng đang bị tích tụ. Một cách tự nhiên, thuật bấm huyệt đã thường được dùng trong điều trị các tật về mắt như cận thị, đục thủy tinh thể, viễn thị, mù màu, loạn thị, nhược thị và những bệnh tương tự khác.

Các vị trí huyệt đạo tốt nhất cho mắt:

Theo như người Trung Hoa cổ, đôi mắt có liên đới đến nhiều phần khác nhau của cơ thể như gan, cổ và các ngón chân. Trong khi việc sử dụng kim được cho là mang lại nhiều lợi ích (Châm cứu), việc sử dụng các đầu ngón tay để dùng cho việc mát xa hoặc thuật Shiatsu (Tiếng Nhật có nghĩa là “ấn bằng ngón tay”) cũng sẽ mang lại hiệu quả và có thể còn được thực hiện dễ dàng hơn.

1. Mát xa xung quanh vùng mắt:

Có nhiều điểm huyệt đạo xung quanh mắt nơi bạn có thể mát xa nhằm mang lại nhiều ích lợi.

  1. Đầu tiên, bắt đầu từ mé phía trong – đó là một điểm huyệt đạo nằm ngay kế bên sống mũi.
  2. Bằng ngón tay giữa, mát xa tại điểm này theo những vòng xoay nhỏ.
  3. Tiếp tục thực hiện nó trong ba phút. Một điểm huyệt đạo khác nằm trên cùng một đường ngang tại mé ngoài của mắt, gần ngay thái dương. Bạn có thể mát xa điểm này bằng cách tương tự.
  4. Điểm huyệt đạo kế tiếp nằm ngay bên dưới trung tâm của mắt. Điểm huyệt cuối cùng sẽ nằm tại chân mày, thẳng hướng phía trên điểm vừa rồi.

Việc mát xa những điểm này mỗi ngày sẽ giúp giảm các cơn đau về mắt và đồng thời giúp cải thiện thị lực. Đôi mắt bạn vốn vô cùng nhạy cảm, do đó hãy đảm bảo rằng bạn không ấn phải mắt trong lúc thực hiện mát xa.

2. Mát xa vùng quanh lỗ mũi:

Bạn có biết rằng vẫn có những điểm huyệt đạo thậm chí nằm xung quanh lỗ mũi của mình?
Phải, và việc mát xa chúng có thể giải phóng bạn khỏi những cơn đau đầu khó chịu và cũng có thể giúp cải thiện thị lực chính bạn về lâu dài.

  1. Đặt ngón trỏ của bạn vào cả hai bên lỗ mũi và chầm chậm mát xa chúng. Việc kích thích này sẽ giúp giảm các cơn đau viêm xoang, đau đầu và cả chứng nghẹt mũi. Nó cũng đồng thời giúp khơi thông thị lực.
  2. Bất kỳ lúc nào bạn làm động tác này, chỉ ấn nhẹ vào phần lỗ mũi, đừng ấn quá mạnh đến nỗi phải thở bằng miệng.
  3. Lặp lại động tác mát xa này hàng ngày trong năm phút.

3. Mát xa vùng sống mũi:

Nơi sống mũi của bạn cũng có một huyệt đạo.

  1. Dùng cả hai tay, mát xa cả hai bên sống mũi của mình.
  2. Hãy chắc rằng các ngón tay của bạn không cong lại khi thực hiện mát xa. Làm điều này trong năm phút để làm giảm chứng đỏ và mỏi mắt.
  3. Giờ thì tiến lại trung tâm vùng chữ T giữa trán bạn, ngay giữa hai chân mày. Đây là một huyệt đạo khác. Mát xa tại đây giúp cải thiện thị lực và đồng thời giúp xả stress.

4. Mát xa các đầu ngón tay và đầu ngón chân:

Bạn có nhận biết được các huyệt đạo của mắt nằm ở ngay bàn tay và bàn chân mình? Những người Trung Hoa cổ tin rằng có sự liên thông giữa mắt chúng ta và các đầu ngón tay lẫn các đầu ngón chân.

  1. Để mát xa các đầu ngón tay của bạn, áp hai bàn tay vào và chạm nhau ở phần đầu ngón và nhẹ nhàng chà xát chúng với nhau.
  2. Để mát xa các ngón chân của mình, nắm từng ngón chân giữa ngón trỏ và ngón cái rồi mát xa riêng lẻ.
  3. Động tác này giúp tăng cường tuần hoàn máu khắp cơ thể và tăng cường thị lực.

Liệu pháp bấm huyệt khắp thế giới:

Trên khắp thế giới, thủ thuật bấm huyệt đã trở nên phổ biến cho những ai đang tìm đến một phương thuốc mới và cả một cách thức tiếp cận mang tính toàn diện cho sức khỏe. Lấy ví dụ, trong một nghiên cứu thực hiện bởi một nhóm các nhà khoa học, họ đã phát hiện ra việc bấm huyệt lỗ tai là một phép trị liệu mới và mang tính bổ sung để cải thiện độ tinh mắt ở những bệnh nhân mắc chứng glôcôm (Tăng nhãn áp).

Chính phủ Mỹ hiện đang khám phá ra công dụng của việc bấm huyệt trong việc giúp đỡ những cựu chiến binh trong công tác phục hồi sau chứng rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD). Bạn thậm chí có thể trở thành một thầy thuốc hành nghề bấm huyệt bằng việc tham gia vào các khóa học được công nhận để có lấy tấm bằng. Ví như, trang website đào tạo của chính phủ Australia hiện đang cung cấp một khóa học cao đẳng về bấm huyệt.

Có những huyệt đạo là tốt nhất cho mắt. Hãy thực hành với chúng ngay hôm nay để nói tạm biệt với những vấn đề về mắt. Cũng như hãy cho chúng tôi biết bạn cảm thấy thế nào về bài viết này.

Tình trạng mắt hiếm gặp phía sau tài năng của da Vinci, một nghiên cứu công bố

Bởi Nina Avramova, CNN

Cập nhật 18/10/2018

Nguồn: https://edition.cnn.com/2018/10/18/health/da-vinci-rare-eye-condition-study-intl/index.html

Bức họa “Salvator Mundi,” vẽ bởi Leonardo da Vinci, đã thể hiện chứng mắt lác ngoài (Exotropia) của ông, một nghiên cứu mới cho hay.

(CNN) Một tình trạng bệnh mắt hiếm gặp đã giúp Leonardo da Vinci có thể họa được khoảng cách và cả chiều sâu của những vật thể trên những bề mặt phẳng với một độ chính xác mà nhờ nó ông đã trở nên nổi tiếng, một nghiên cứu mới đây tuyên bố.

Da Vinci, một trong những họa sĩ được tôn vinh nhất thế giới, đã mắc chứng bệnh mắt lác ngoài gián đoạn, một kiểu lệch mắt mà một mắt trong đó hướng ra ngoài, theo lời một nghiên cứu công bố hôm thứ Năm trên tạp chí chuyên ngành nhãn khoa JAMA Ophthalmology.

“Nhìn vào tác phẩm của ông, tôi đã nhận ra sự phân kỳ về mắt rõ rệt trong tất cả những bức họa ông vẽ,” tác giả bài nghiên cứu giải thích, Christopher Tyler, một giáo sư nghiên cứu tại đại học thành phố Luân Đôn và học viện nghiên cứu mắt Smith-Kettlewell tại San Francisco.

Khi đang phân tích ánh nhìn trong sáu bức vẽ nhiều khả năng là tranh tự họa của chính da Vinci – hai bức điêu khắc, hai bức tranh sơn dầu và hai bức họa chì – Tyler phát hiện ra vài bức đã thể hiện dấu vết của chứng mắt lác ngoài, với đôi mắt đang nhìn về một góc hướng ra ngoài.

Không phải toàn bộ sáu tác phẩm đều là tranh tự họa, nhưng da Vinci đã nhấn mạnh trong chính giọng văn của ông rằng bất kỳ tấm chân dung nào được vẽ bởi một họa sĩ đều phản ánh chính diện mạo của họ.

Tyler đã kiểm chứng tình trạng về mắt bằng cách vẽ các đường tròn tới những con ngươi, mống mắt và mí mắt trên từng bức họa rồi đo đạc vị trí của chúng. Khi ông chuyển đổi các giá trị đo đạc về một góc, các kết quả đều chỉ ra da Vinci có xu hướng bị mắt lác ngoài, với một bên mắt đang quay một góc 10.3 độ ra phía ngoài khi được thả lỏng. Nhưng nhà hội họa bậc thầy có thể đã điều chỉnh mắt trở lại hướng canh thẳng trong lúc tập trung.

Tyler tin rằng mắt trái của da Vinci đã chịu tác động của tình trạng này, nhưng thật không dễ dàng để chắc chắn.

Chứng lệch mắt lác ngoài, một dạng của chứng mắt lác, hiện đang ảnh hưởng lên 1% dân số thế giới, ông ấy nói.

Chứng mắt lác ngoài của Da Vinci đã cho phép ông nhìn thấy thế giới từ một góc độ khác biệt. “Thứ mà ông ấy đang nhìn thấy sẽ trông giống hơn như một tấm canvas phẳng hơn là với chúng ta như một màn hình ba chiều,” Tyler nói; điều này làm cho “việc chuyển đổi mọi thứ lên tấm canvas sẽ dễ dàng hơn.”

Tình trạng này khi đối lập với thị giác thông thường của con mắt còn lại đã giúp ông phát triển một sự thấu hiểu mạnh mẽ về những vật thể ba chiều. Tyler cho rằng chính khả năng này đã cho phép hầu hết các tác phẩm nghệ thuật của da Vinci có được sự di mờ chính xác nổi tiếng.

Những kỹ thuật nghiên cứu tương tự đã được sử dụng để chứng thực các họa sĩ lớn khác như Rembrandt, Edgar Degas và Pablo Picasso cũng đã mắc phải các chứng mắt lệch khác nhau.

Nghiên cứu còn cho rằng hướng nhìn và kích thước khác nhau của những con ngươi trong vài tác phẩm của da Vinci có thể được hiểu theo hướng dị thường, một tình trạng khi một con ngươi lớn hơn phía còn lại. Nhưng Tyler đã nói điều này “thật khó có khả năng.” Thay vào đó, Tyler tin rằng da Vinci có lẽ đang dùng cách mô tả này để nói lên kinh nghiệm của ông khi một bên mắt có thể nhìn rõ hơn mắt còn lại.

Tiến sĩ Julius Oatts, một giáo sư trợ lý tại khoa nhãn đại học California, San Francissco, đã cho rằng khá phám trên thật thú vị. “Sẽ có rất nhiều nghi vấn rằng liệu bức họa có thực đang vẽ chính da Vinci và liệu nó có vẽ lại đôi mắt ông một cách chân thực,” Oatts nhận định, vốn là người không tham gia vào việc nghiên cứu.

Tyler cho rằng người nghệ sĩ này “quả là một nhân vật đáng ngưỡng mộ trong lịch sử đến nỗi thật thú vị để khám phá ra những gốc rễ phía sau tài năng của chính ông.”

Bộ chuyển đổi thiết bị kiểm tra thông minh bằng iphone dùng cho kính đo đáy mắt PanOptic của hãng Welch Allyn đã được thông qua ở Mỹ

Ngày đăng: 24/1/2013

Nguồn: https://www.medgadget.com/2013/01/iexaminer-iphone-adapter-for-welch-allyns-panoptic-ophthalmoscope-cleared-in-u-s.html

Welch Allyn đã nhận được 510(k) từ sự thông qua của FDA cho thiết bị phụ tùng đo đạc giúp gắn kết kính đo đáy mắt PanOptic của công ty với một chiếc iphone nhằm mang lại trải nghiệm sử dụng thích thú và tiện dụng hơn cho những buổi kiểm tra đáy mắt. Một hệ thống hoàn chỉnh sẽ giúp các bác sĩ lâm sàng chụp ảnh mắt và lưu lại ảnh nhằm phục vụ cho công tác truy vấn hoặc chia sẻ với các đồng nghiệp. Hơn nữa, hệ thống về cơ bản là một sản phẩm phục vụ cho việc điều trị từ xa vốn sẽ mang các bác sĩ nhãn khoa tới những phòng khám xa xôi nơi không có nhân viên phù hợp.

Thiết bị kiểm tra thông minh iExaminer, sẽ canh thẳng phần đặt mắt của kính đo đáy vào camera của điện thoại, vốn sẽ tích hợp với mẫu iphone 4 và 4S và việc vận chuyển được hứa hẹn sẽ bắt đầu trong vài tuần nữa. Ngoài ra còn có một ứng dụng bổ sung từ Welch Allyn để tạo thành một sản phẩm trọn gói, và nó đã sẵn sàng để tải về từ kho ứng dụng của Apple.

Sau đây là bác sĩ Coleman, một bác sĩ nhãn khoa ở thành phố Shreveport, bang Louisiana, đang sử dụng iExaminer để thực hiện đo đáy mắt trên đỉnh núi Kilimanjaro:
https://www.youtube.com/watch?v=639clXwk3ao


Từ sóng người Mexico đến sóng võng mạc: Vì sao việc chia sẻ dữ liệu lại tốt cho khoa học

7/4/2014
Nguồn: https://www.cam.ac.uk/…/from-mexican-wave-to-retinal-wave-w…

“Có hai lợi ích chính của việc chia sẻ. Song song với việc dẫn đến các cơ hội hợp tác khác và những nghiên cứu thú vị hơn, nó còn có ý rằng người khác sẽ kiểm tra được bạn đã làm những gì, để sau đó đưa đến những công trình nghiên cứu mạnh mẽ hơn nữa.”

– Tiến sĩ Stephen Eglen

Từ cách chúng ta học, đến cách bộ não chúng ta được tạo ra để lưu trữ, những việc não bộ thực hiện sẽ phụ thuộc vào những liên kết tạo ra giữa hàng tỉ tế bào thần kinh, dù còn rất nhiều thứ về cách hệ thần kinh của ta phát triển vẫn còn đang là một ẩn số.

Hiện tại, các nhà nghiên cứu ở Cambridge, York, Newcastle và cao đẳng hoàng gia London đã xây dựng một hệ thống cho phép các nhà sinh lý học thần kinh chia sẻ những dữ liệu thô cùng nhau, thứ gì đó họ hi vọng sẽ tạo ra thêm những khám phá mới trong lĩnh vực này. Các kết quả sẽ được công bố trên trang tạp chí chuyên ngành GigaScience.

Loại dữ liệu đầu tiên được thu thập và quy chuẩn hóa là những đoạn thu âm của cái gọi là “sóng võng mạc”. Trong suốt giai đoạn đầu phát triển, những tế bào thần kinh võng mạc sẽ tạo ra các tín hiệu lan truyền với tốc độ cao từ tế bào này sang tế bào khác, giống hệt như sóng người Mexico trong các sân vận động bóng đá. Những hình mẫu hoạt động này được cho rằng sẽ giúp tạo ra các liên kết thần kinh từ mắt đến não bộ.

Để thu nhận những sóng võng mạc, các nhà khoa học sử dụng những mảng đa điện cực (những thiết bị điện tế vi). Trong nghiên cứu này, nhóm đã thu được 366 bản thu âm từ 12 nghiên cứu khác nhau từ năm 1993 đến năm 2014, chuyển đổi toàn bộ chúng thành HDF5 – một định dạng mã nguồn mở tiêu chuẩn – và công bố chúng trên một “phòng thí nghiệm ảo” dạng trang web tên là CARMEN.

Theo người đứng đầu dự án, tiến sĩ Stephen Eglen từ Học Viện Sinh Học Máy Tính Cambridge:
“Không như những lĩnh vực khác như nghiên cứu bộ gen, chẳng có nhiều thông tin được công bố và chia sẻ trong môn khoa học thần kinh, vốn có thể do dữ liệu không đồng nhất hoặc khó chú thích, hoặc do các nhà nghiên cứu đã khá lưỡng lự trong việc chia sẻ dữ liệu với một đối thủ cạnh tranh.”

Nhưng Eglen tin rằng sẽ có rất nhiều thứ có thể đạt được bằng một cách tiếp cận mang tính hợp tác hơn. “Có hai lợi ích chính của việc chia sẻ,” ông nói. “Song song với việc dẫn đến các cơ hội hợp tác khác và những nghiên cứu thú vị hơn, nó còn có ý rằng người khác sẽ kiểm tra được bạn đã làm những gì, để sau đó đưa đến những công trình nghiên cứu mạnh mẽ hơn nữa. Và nếu chính những người nộp thuế đã góp vốn vào một công trình nghiên cứu, tôi thiết nghĩ sẽ là quan trọng để những kết quả đó được công bố ra ngoài.”

CARMEN là một dự án thử nghiệm được gây quỹ bởi EPSRC, và hiện giờ thì được hỗ trợ bởi BBSRC.

Mắt người ứng với bao nhiêu Megapixels?

19/12/2016

Viết bởi Ashley Hamer

Nguồn: https://curiosity.com/topics/how-many-megapixels-is-the-human-eye-curiosity/?fbclid=IwAR2S2K9OFE0KidUru6kxx0q-gWuYqN-H7xWTi4ZNFkXkpl58KdF73t9cnco

Theo nhà khoa học và nhiếp ảnh gia, tiến sĩ Roger Clark, độ phân giải của mắt người là 576 megapixels. Đó là con số khủng khi bạn so nó với camara 12 megapixels của iphone 7. Nhưng điều này có nghĩa là gì, thật sự? Liệu mắt người có thực tương đồng với một cái máy ảnh?

Cười lên nào!

Mức độ phân giải 576 megapixels đồng nghĩa rằng để tạo ra một màn hình với bức ảnh thật sắc nét và rõ ràng đến mức bạn không thể phân biệt các pixels riêng lẻ, bạn cần phải nhồi đủ 576 triệu điểm ảnh (pixels) vào phần diện tích bằng với kích thước thị trường của bạn. Để đạt đến con số của anh ấy, tiến sĩ Clark đã giả định có được thị lực tối ưu trên toàn vùng thị trường; Nghĩa rằng, giả định mắt bạn sẽ di chuyển lòng vòng xung quanh khung cảnh trước mặt bạn. Nhưng trong một thoáng nhìn ở cự ly chụp nhanh (snapshot), độ phân giải sẽ giảm đi một phần nhỏ: Khoảng 5-15 megapixels.

Đó là bởi mắt bạn có quá nhiều lỗ hổng vốn không thể chấp nhận được trên một cái camera. Bạn chỉ có thể nhìn với độ phân giải cao ở một tiết diện nhỏ nằm ngay giữa tầm nhìn của bạn, gọi là vùng hố thị giác (Fovea). Bạn cũng có điểm mù là nơi các dây thần kinh thị giác của bạn chạm vào vùng võng mạc. Bạn đảo mắt vòng quanh cảnh vật không chỉ để có thêm thông tin mà còn để bù đắp cho những chi tiết bất hảo trong hệ thống thị giác của chính mình.

Câu hỏi sai lầm

Thật sự, dù vậy, độ phân giải megapixel của mắt vẫn là một câu hỏi sai lầm. Mắt vốn chẳng phải ống kính máy ảnh, chụp lấy những tấm ảnh nhanh để lưu vào ngân hàng bộ nhớ của bạn. Nó giống một tay thám tử hơn, thu thập những bằng chứng từ môi trường quanh bạn, sau đó đưa chúng về lại não bộ và lắp ghép tất cả vào với nhau để tạo ra một bức tranh hoàn chỉnh. Chắc chắn sẽ có những khung cảnh với độ phân giải mà mắt chúng ta không còn có thể phân biệt được pixels – và theo vài người, nó có tồn tại – nhưng khi đã đi vào kinh nghiệm thị giác hàng ngày của ta, nói về megapixels thì lại là quá giản đơn.

Để góp vui, khi muốn tìm đến những hình minh họa về cách đôi mắt nhìn thế giới, hãy tìm đọc cuốn “Eye: How it works” của David Macaulay. Chúng tôi đã tự tay chọn ra những phần gợi ý mà có thể bạn sẽ thích. Nếu bạn chọn mua qua đường link đó, Curiosity sẽ có phần.

Cách dùng từ điển đồng nghĩa để thực cải thiện khả năng viết của bạn

Tác giả: Martin Amis (8/2/2019)
Nguồn: https://bigthink.com/…/how-a-thesaurus-can-improve-your-wri…

Việc tra những từ dài dòng và hão huyền sẽ không làm văn bạn tốt hơn. Nhưng một cuốn từ điển đồng nghĩa thì có thể giúp, nếu bạn dùng nó theo cách này.

MARTIN AMIS: Một cách nổi tiếng (Famously), Nabokov đã nói, hoặc một cách nổi tiếng xấu (Infamously), có lẽ giờ đã là một từ đồng nghĩa với chính nó, “Chỉ có một trường dạy viết duy nhất, đó là tài năng.” Và nó quá rõ ràng rằng bạn không thể truyền dạy được tài năng. Đương nhiên bạn không thể. Nhưng điều bạn có thể làm là thấm nhuần lấy vài quy tắc cố hữu và tránh những lỗi lặp từ xấu xí, vốn là điều vô cùng quan trọng. Sự lặp từ có tác dụng của riêng nó nhưng dù là gì thì cũng tốt hơn việc lặp bằng thứ họ vẫn gọi là “sự biến thể sáo rỗng.” Đây chính là ví dụ lấy từ tiểu sử của Lincohn: “Khi còn ở Chicago ông đã tỏ ra nhượng bộ miền Nam. Khi ở New York ông lại tỏ ra ủng hộ…”

Bạn biết đấy, chẳng có nghĩa lý gì trong việc cố dùng từ ngữ khác đi khi chẳng có gì khác về ngữ nghĩa.

Và đó hẳn là những thứ mà một nhà văn được dạy lúc 12 tuổi – Không bao giờ dùng lại một từ hai lần trong câu – Họ bị khủng bố bởi điều ấy và sau đó bị lậm vào cái thứ “chất phác” mới mẻ mà bạn vẫn hay tránh né kia. Nhưng tôi chỉ đang nói về vấn đề âm thanh và ngữ điệu.

Cuốn tiểu thuyết của Nebokov mà chúng ta vẫn biết với cái tên “Lời mời lên đoạn đầu đài” (Invitation to a Beheading) ban đầu đã được gọi là – không dài lắm – “Lời mời đến một vụ hành quyết” (Invitation to an Execution). Giờ thì Nabokov nói, “Đương nhiên tôi đã tránh việc lặp lại hậu tố đứng sau và rồi tôi chọn gọi nó với tên ‘Lời mời lên đoạn đầu đài’ hơn là ‘Lời mời đến một vụ hành quyết’, vốn khá lủng củng về mặt âm điệu.”

Bạn cần phải nghĩ về các phần của một từ cũng như toàn bộ từ đó. Việc tránh lặp tiền tố và hậu tố cũng như lặp vần và bán vần, hoặc dụng phép điệp âm một cách vô ý, đại loại như thế, đều có thể làm được bởi bất kỳ một ai đơn giản bằng cách sử dụng từ điển song ngữ và từ điển đồng nghĩa. Người ta nghĩ rằng từ điển đồng nghĩa sinh ra chỉ để tra cứu các từ “cao siêu” và “dài dòng”. Đó vốn chẳng phải mục đích của từ điển đồng nghĩa, theo ý tôi.

Một cuốn từ điển đồng nghĩa chính là – Bạn tìm lấy một từ nào đó và thường là lúc đã về cuối câu khi bạn không mấy hài lòng với câu từ bạn đã chọn trước đó, không phải vì ý nghĩa mà chính vì vần điệu của nó. Và rất có thể bạn chỉ muốn loại từ đơn vần cho ý văn này hoặc bạn lại muốn từ có những ba vần. Do vậy, khi bạn nhìn vào từ điển đồng nghĩa, và tìm thấy cách ví von nào đó với số vần gieo đúng ý mình, bạn biết đấy, hợp với cả câu để giữ được cái trọn vẹn về nhịp điệu. Và bạn chỉ việc tìm đến cuốn từ điển đồng nghĩa để làm tất cả điều đó cũng như sử dụng cả cuốn từ điển song ngữ của bạn nữa.

Đừng dùng những từ chống lại chính gốc từ của nó. Ví như, từ “dilapidate” (đổ nát). Hoàn toàn ổn khi nói về một tòa nhà đổ nát (dilapidated building) nhưng sẽ là không ổn mấy khi nói về một bờ rào đổ nát (dilapidated hedge), vì từ “dilapidated” lấy từ gốc từ “lapis”, nghĩa là bờ đá (stone). Vì vậy một cây bút thật sự cẩn trọng sẽ chắc rằng họ sẽ không vi phạm tính chuẩn mực về nguồn gốc của từ. Do đó, nó quả là vô cùng tốn công.

Ý tôi là nó sẽ tốn khá nhiều thời gian, thỉnh thoảng, để tạo thành một câu đúng, có vần điệu, và không lạm dụng các từ chính yếu trong đó. Và tất cả những gì bạn có được là sự kính trọng từ những cây bút nghiêm túc khác. Nhưng tôi cho rằng bất kỳ sự nỗ lực nào cũng đáng có được điều đó.

Nó đủ giản đơn để tìm cho mình những từ thay thế mà không mắc vào những lỗi lớn của cái gọi là biến thể sáo rỗng, thứ mà bạn chỉ việc tốn vài phút nhìn vào sách tham khảo. Tôi chọn nhìn vào từ điển, tôi tra từ trong đó ít nhất cả tá lần một ngày. Và bạn sẽ phát hiện ra những thứ vô cùng thú vị và lạ kỳ. Ví dụ, Từ “Widow” (Góa phụ) với nghĩa ban đầu là “Empty” (Trống trải). Đó là một tính từ với nghĩa là trống trải.

Giờ nó đã là một phần của bạn – Khi bạn tra một từ trong tự điển rồi bạn sẽ sở hữu được nó bằng cái cách mà bạn chưa từng trước đây. Bạn biết nó đến từ đâu và bạn biết nghĩa chính xác của nó là gì. Bất kỳ lúc nào tôi dùng nó – Và tôi vẫn hay làm thế – Nó như thể bạn cảm thấy có một tế bào xám sinh ra từ trong đầu, và rồi lại có chút bổ sung nào đó thêm vào kho kiến thức của chính bạn. Và trong khi các tế bào khác đang chết dần chết mòn trong cái thứ gọi là sự diệt chủng của tiến trình lão hóa thì bạn lại có thể lưu trữ nó, và đó chính là những gì bạn sẽ cảm thấy. Và rồi nó củng cố bạn.

• Việc sử dụng từ điển đồng nghĩa để tìm những từ dài hơn và ấn tượng hơn là một sai lầm, Martin Amis đã nói. Thay vì vậy, hãy dùng nó để tra những từ với vần điệu hoàn hảo cho câu văn của mình.
• Lấy ví dụ, cuốn tiểu thuyết của Nabokov với cái tựa “Lời mời lên đoạn đầu đài” ban đầu đã được gọi là – không quá dài dòng – “Lời mời đến một vụ hành quyết”. Nabokov đã bỏ đi hậu tố bị lặp.
• Một cuốn tự điển vốn cũng là bạn thân của các nhà văn; việc tra từ sẽ có tác dụng làm mới lại đầu óc của bạn, Amis nhận định. “Khi bạn tìm thấy một từ trong tự điển, bạn sẽ sở hữu nó bằng cái cách bạn chưa từng trước đây. Bạn biết nó đến từ đâu và bạn cũng biết nghĩa chính xác của nó là gì.”