Có gì bên trong nhà thờ Chính Tòa Đức Bà ở Paris

Bởi Emanuella Grinberg
Cập nhật 0109 GMT (0909 HKT) 16 tháng 4, 2019
Nguồn: https://edition.cnn.com/2019/04/15/europe/notre-dame-artifacts/index.html

(CNN) Nhà thờ Chính Tòa Đức Bà ở Paris chính là nhà của đủ loại hiện vật lẫn các tác phẩm nghệ thuật và cả những thánh tích khác nhau thu thập được qua hàng thế kỷ, mỗi một thứ đều có câu chuyện của riêng nó.

Khi ngọn lửa tàn phá xé toạt qua ngôi nhà thờ chính tòa với kiến trúc Gothic đầy tôn nghiêm hôm thứ hai, sau đó đánh đổ đỉnh tháp của nó, nhiều người đã lo sợ rằng những hiện vật có thể sẽ không còn nữa.

Ngọn lửa ở nhà thờ Đức Bà

Cả một “cánh rừng” những tấm lưới mắt cáo bằng gỗ đã nạp thêm nhiên liệu cho ngọn lửa, để rồi đánh sập đỉnh tháp biểu tượng cũng như ngốn cả phần mái của một tòa nhà mà phần khung đã tồn tại nơi đây mãi từ thế kỷ thứ 13, theo như lời Đức Ông Patrick Chauvet, vị mục sư cai quản ngôi chính tòa.

Chỉ có 2 đặc điểm bên trong cấu trúc mang tính lịch sử nổi tiếng này khi nói về phần kiến trúc của nó lẫn những đặc điểm nổi bật khác.

Những tấm cửa sổ hoa hồng là một bộ ba cửa sổ với những tấm kính phủ màu hình tròn bao la ngay bên trên ba cánh cổng của ngôi chính tòa đã tồn tại mãi từ thế kỷ 13 này.

Tấm kính phủ màu ở hướng Bắc nhà thờ Đức Bà ở Paris.

Cây đàn organ lớn có từ thời trung cổ. Trải qua nhiều năm, những người làm đàn đã cải biến nhạc cụ này và gắn thêm vào cho nó, nhưng nó vẫn chứa trong mình những phần ống có trong giai đoạn sau khi Đế Chế La Mã sụp đổ đến thời cận đại mãi cho đến khi ngọn lửa bùng phát hôm thứ hai.

Vị trí của người nhạc công trưởng, là người chơi trên cây đàn này, nắm giữ một uy danh to lớn trên đất Pháp và trên toàn thế giới.

Cây đàn lớn được sử dụng vào những dịch vụ cộng đồng.

• Vô số những tác phẩm điêu khắc, những pho tượng và cả những bức họa bên trong ngôi chính tòa vốn mô tả lại những khung cảnh trong Kinh Thánh và cả những vị thánh.

Một chuỗi gồm 76 bức họa, mỗi bức cao xấp xỉ 4 mét, nhắc nhớ lại hành động của những tông đồ trong Tân Ước, bao gồm sự chịu nạn của thánh Peter trên thập giá và cả sự cải đạo của thánh Paul. Công trình đã được hoàn thành từ giữa năm 1630 đến năm 1707 bởi những thành viên của hiệp hội của Học Viện Mỹ Thuật và Điêu Khắc Hoàng Gia.

Một chuỗi những bức họa khác đến từ danh họa Jean Jouvenet miêu tả lại cuộc đời của Đức Mẹ Đồng Trinh. Cả sáu trong chuỗi những bức họa này đã từng nằm bên trong ngôi chính tòa. Chúng đã được di dời về bào tàng Louvre vào những năm 1860, và chỉ có bức “Chuyến viếng thăm” là được trả về cho nhà thờ Đức Bà.

Một tấm chân dung từ năm 1648 vẽ thánh Thomas Aquinas cũng tô điểm thêm cho phần bên trong ngôi chính tòa.

Tháp chuông đôi đã từng là phần cấu trúc cao nhất Paris mãi đến khi công trình tháp Eiffel được hoàn thành vào cuối thế kỷ thứ 19.

Tháp chuông đôi của nhà thờ Chính Tòa Đức Bà.

Ngọn tháp phía Bắc được hoàn thành năm 1240 và ngọn tháp hướng Nam vào năm 1250.

• Chuông chính của ngôi chính tòa, Emanuella, nằm ở tòa tháp phía Nam. Nó đã đánh dấu những thời khắc trọng đại trong lịch sử nước Pháp, như thời điểm chấm dứt Thế Chiến thứ hai cũng như những ngày lễ và những dịp quan trọng.

Mão gai là một thánh tích về sự chịu nạn của Chúa Giêsu.

• Kho báu của ngôi chính tòa bao gồm vô số những hiện vật thiêng liêng trong đời sống Công Giáo, bao gồm những thứ được tin rằng chính là Mão Gai, một mảnh của cây Thập Giá Thật và một trong số Những Cây Đinh Thánh.

Một cây đinh từ thập giá nơi Chúa Giêsu Kitô đã chịu đóng đinh được bảo tồn bên trong nhà thờ chính tòa Đức Bà.

• Về phần ngoại thất của ngôi chính tòa, một bầy thú hung tợn gồm những phần đầu máng xối dạng linh thú gargoylesnhững quái vật Chimera (Rồng phun lửa trong truyền thuyết Hy Lạp với đầu sư tử, mình dê và đuôi rắn) đứng canh giữ.

Một linh thú Gargoyle với vẻ buồn rầu tô điểm thêm cho bên ngoài ngôi Chính Tòa Đức Bà.

• Một hầm mộ mang dấu ấn khảo cổ tọa lạc ngay bên dưới một khoảng đất trống ở khu vực sân chung. Nó được tạo ra nhằm bảo vệ những thánh tích từ thế kỷ 19 vốn được phát hiện trong những cuộc khai quật vào năm 1965. Chúng đã được mở ra cho công chúng chiêm ngưỡng vào năm 1980.

5 kỹ năng giúp bạn phát triển trí tuệ cảm xúc

Bởi: Mark Manson
Ngày Đăng: 11/04/2019 – 13 phút đọc
Nguồn: https://markmanson.net/emotional-intelligence

Phi hành gia có lẽ là nghề chua nhất từng xuất hiện trên mặt đất này. Trong khoảng hàng chục nghìn đơn đăng ký, mỗi thập kỷ NASA sẽ chỉ chọn ra khoảng nửa tá ứng viên. Quá trình xét tuyển là cực kỳ cẩn trọng và đòi hỏi vô cùng khắc khe. Bạn cần phải là một kẻ vô cùng khác biệt để có thể đạt yêu cầu. Bạn cần phải có chuyên môn sâu về cả khoa học lẫn kỹ thuật. Bạn cần tối thiểu 1000 giờ kinh nghiệm làm phi công. Bạn cần cân đối và khỏe mạnh về thể chất. Và, trên hết tất cả, bạn còn phải là một đứa thông minh vãi nồi ra.

Lisa Nowak là một trong những thứ như vậy. Cô có bằng thạc sĩ về kỹ sư hàng không và đã học bằng hai ngành vật lý thiên văn ở học viện hải quân Hoa Kỳ. Cô đảm nhiệm các chuyến bay cho hải quân Mỹ ở khu vực Thái Bình Dương trong hơn 5 năm. Vào năm 1996, cô đã trở thành một trong số ít những người may mắn được chọn trở thành một phi hành gia.

Quá rõ ràng, cô thông minh như quỷ. Nhưng vào năm 2007, sau khi phát hiện ra bạn tình của mình đang lén phén với một ả khác, Lisa lái xe liên tục 15 tiếng, còn đóng nguyên cả tã, từ Houston về Orlando, chỉ để gặp cô tình nhân mới của anh bạn trai ngay tại bãi đỗ xe của một sân bay. Lisa đã thủ sẵn dây rút nhựa, bình xịt hơi cay và nhiều túi rác cỡ lớn và cả một kế hoạch mờ-ảo-lẫn-chưa-thực-sự-đắn-đo-kỹ-lưỡng để bắt cóc người đàn bà kia, Lisa đã bị đánh gục về mặt cảm xúc, dẫn đến việc cô sớm bị bắt giữ ngay sau đó.

***

Thông minh cảm xúc là một ý niệm mà các nhà nghiên cứu đã đưa ra vào những năm 1980 lẫn một thập kỷ sau đó để lý giải vì sao những người thông minh như Lisa lại luôn làm những việc vô cùng, vô cùng ngớ ngẩn. Sự tranh luận cho rằng, cùng với cách mà trí tuệ tổng quát (IQ) của bạn trở thành thước đo cho khả năng diễn giải thông tin và đi đến một quyết định hoàn hảo, trí thông minh cảm xúc (EQ) của bạn cũng chính là khả năng thực thi những xúc cảm – cả cho người khác và cho chính bạn – để đi đến những quyết định đúng đắn.

Vài người sở hữu chỉ số IQ cao ngất ngưỡng nhưng lại có một chỉ số EQ khá thấp – Hãy nghĩ về người thầy giáo sư quái gỡ của bạn, người còn không thể đi vớ cùng màu và là người cũng không thể nhìn ra mục đích của việc tắm gội. Một vài người khác thì lại có chỉ số EQ cao nhưng lại khá thấp về IQ – Hãy nghĩ về mấy gã xin tiền ngoài phố xem, vốn là những người còn chả đánh vần được tên mình nhưng cách nào đó lại nài nỉ được bạn cởi áo khoác đưa cho.

Các nhà tâm lý nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc thỉnh thoảng còn tuyên bố rằng thông minh cảm xúc mới chính là thứ thực sự quan trọng hơn trí thông minh tổng quát. Câu nói này chính nó đã gây ra nhiều tranh cãi, tệ hại nhất nó còn phải hứng cả một bao bố của “Cái quái gì thế này?” Dù ai nói gì đi nữa, việc đo đạt được trí thông minh cảm xúc là điều vô cùng khó khăn, nếu không phải nói rằng là không thể. Hầu hết những thứ này đều chỉ mang tính chủ quan mà thôi.

Nhưng cũng chính vì trí tuệ cảm xúc không hề cố định như trí thông minh tổng quát, đồng nghĩa rằng IQ sẽ khó thay đổi hơn. Nhưng EQ mới là thứ bạn có thể xử lý và phát triển nó lên như cơ bắp hay kỹ năng vậy, và rồi nhìn thấy sự tiến bộ của nó, như một bông hoa ngon lành trong cả cái vườn ngờ nghệch của chính bạn.

Do vậy, về cơ bản, chẳng liên quan đến việc bạn thông minh đến độ nào, bạn cũng chả còn lý do lý trấu nào đâu, ráng mà xốc lại đội hình đi. Phát triển trí thông minh cảm xúc chỉ đơn giản là không thành một kẻ ngớ ngẩn như Lisa đã từng.

Sau đây là năm cách để bắt đầu thực hiện điều đó.

1. Luyện tập sự tự nhận thức

Cũng như với hầu hết những thứ có cảm xúc, bạn sẽ chẳng thể khá hơn được với nó nếu bạn chẳng biết nó là cái quái gì. Khi bạn thiếu đi khả năng tự nhận thức, việc cố làm chủ lấy cảm xúc của chính mình cũng hệt như đang ngồi trên một cái xuồng bé tẹo mà chẳng có lấy cái mái chèo đang trôi lơ lửng trên cả một đại dương xúc cảm, hoàn toàn thất thường theo con sóng của bất kỳ thứ gì đang diễn ra trong từng khoảnh khắc. Bạn cũng chả biết mình đang trôi dạt về đâu hoặc làm cách nào bạn tới được đó. Và tất cả những gì bạn có thể làm là hét toáng lên và kêu gọi sự giúp đỡ.

Sự tự nhận thức có liên quan đến việc thấu hiểu chính mình và hành xử của bản thân ở ba mức độ: 1) Bạn đang làm gì, 2) Bạn cảm thấy nó thế nào, và 3) Phần chua nhất, nhận ra thứ bạn không biết về bản thân mình.

  • Biết bạn đang làm gì. Bạn có lẽ sẽ cho điều này là giản đơn và khá dễ thực hiện, nhưng sự thật là ở ngay thế kỷ 21 này, hầu hết chúng ta đều không biết mình đang làm cái quái gì trong nửa số thời gian. Chúng ta cài chế độ lái tự động – Kiểm tra email, nhắn tin với lũ bạn thân, kiểm tra Instagram, xem Youtube, lại kiểm tra email, lại nhắn tin cùng lũ bạn, vân vân và vân vân.

Loại bỏ những thứ gây nhiễu trong cuộc sống của bạn – như là, bạn biết rồi đấy, thỉnh thoảng tắt cái điện thoại chết tiệt của bạn đi một lúc và tương tác với thế giới quanh mình là một bước khá tuyệt để đạt đến sự tự nhận thức. Tìm về những không gian tĩnh lặng và được ở một mình, nó có thể hãi đấy, lại là điều cần thiết cho sức khỏe tinh thần của chúng ta. Những loại xao lãng khác bao gồm công việc, TV, ma túy/rượu chè, những trò chơi điện tử, trò thêu chữ thập (cross stitching), cãi nhau với mấy đứa anh hùng bàn phím trên mạng, vân vân.

Hãy lên lịch trong một ngày của bạn để thoát khỏi mấy thứ đó. Hãy đi làm hay đi học mỗi sáng mà không nghe nhạc hay mấy chương trình podcast. Hãy chỉ nghĩ về đời mình. Nghĩ về việc bạn đang cảm thấy thế nào. Dành ra 10 phút buổi sáng để thực hành thiền định. Xóa mạng xã hội ra khỏi điện thoại trong một tuần. Bạn sẽ kinh ngạc về những thứ xảy đến với bản thân mình.

Chúng ta vốn dùng những thứ gây nhiễu này để tránh đi vô vàn những cảm xúc khó chịu, và do đó việc loại đi những tác nhân gây nhiễu và chỉ tập trung vào cảm xúc của bản thân mà không có những thứ kia có thể đôi lúc sẽ làm lòi ra thứ gì đó đáng sợ vãi ra. Nhưng việc bỏ đi những thứ gây xao lãng lại chính là điều cực kỳ hệ trọng vì nó sẽ giúp ta đạt đến cấp độ kế tiếp.

  • Biết mình đang cảm thấy gì. Đầu tiên, khi bạn thực để tâm đến việc bản thân cảm thấy thế nào, nó có thể làm bạn phát hoảng. Bạn có thể sẽ nhận ra mình thực sự luôn khá rầu rĩ hoặc bạn quả là một kẻ khốn kiếp hay cáu kỉnh với rất nhiều người trong cuộc sống. Bạn cũng có thể thấy được có vô vàn nỗi lo đang diễn ra, và rằng toàn bộ cái thứ gọi là “cơn nghiện điện thoại” thực ra chỉ là con đường dẫn bạn tới những lúc chết lặng triền miên và làm xao lãng bạn khỏi những âu lo kia.

Sẽ là rất quan trọng ở ngay tại điểm này để không phán xét bất kỳ cảm xúc nào trồi lên. Bạn sẽ bị cám dỗ để phăng ra những thứ đại loại như, “Gì! Lo lắng ư! Mình bị cái quái gì thế nhỉ!” Nhưng nó chỉ làm tình hình tệ đi. Bất kỳ thứ cảm xúc nào xuất hiện cũng đều có lý do của nó, thậm chí là khi bạn chẳng nhớ lý do đó là gì. Vì vậy đừng quá khó khăn với bản thân mình.

  • Nhận biết mớ cảm xúc nhảm nhí của chính mình. Một khi bạn nhìn ra toàn bộ những thứ lầy lội, khó đỡ mà bạn đang cảm thấy, bạn sẽ bắt đầu cảm nhận được từng thứ nhỏ bé điên rồ kia chui từ đâu ra. Ví dụ, tôi thật sự sẽ nhảy dựng lên mỗi khi bị quấy rầy. Tôi cũng sẽ nổi điên một cách khó hiểu khi đang cố gắng nói điều gì đó mà người tôi đang nói chuyện lại có phần bị xao lãng. Tôi sẽ thật sự cảm thấy bị phật lòng. Và trong khi thỉnh thoảng đúng đó là do sự thô lỗ của họ, thì đôi khi tôi cũng phải lãnh quả và cái kết là trông tôi hoàn toàn như một đứa dở hơi vì tôi không chịu nổi dù chỉ hai giây khi mà từng lời tôi thốt ra lại không được người ta quý trọng. Đó là một vài thứ cảm xúc nhảm nhí trong tôi. Và chỉ có mỗi cách phải nhận thức được nó tôi mới có thể chống trả lại mà thôi.

Giờ đây, khi mà việc tự nhận thức chính bản thân nó không còn đủ hiệu quả nữa. Người ta sẽ phải có khả năng quản lý luôn được cảm xúc của họ.

2. Tạo dòng chảy cho cái giếng cảm xúc trong bạn

Những người luôn tin rằng cảm xúc là thứ cốt lõi trong đời sẽ tìm mọi cách để “kiểm soát” xúc cảm của họ. Bạn không thể. Bạn chỉ có thể phản ứng với nó mà thôi.

Xúc cảm chỉ đơn thuần là những tín hiệu báo cho chúng ta phải chú tâm đến thứ gì đó. Chúng ta sau đó sẽ quyết định xem “thứ gì đó” có quan trọng hay không và rồi chọn ra một mớ hành động để bộc lộ nó, hoặc là không.

Chả có thứ gì gọi là cảm xúc “tốt” hay “xấu” cả đâu – Chỉ có việc phản ứng lại chính những xúc cảm đó là “tốt” hay “xấu” mà thôi.

Tức giận có thể là thứ cảm xúc mang tính tàn phá nếu bạn hiểu sai nó và làm tổn thương người khác hoặc chính bản thân mình khi chúng đang diễn tiến. Nhưng nó có thể là một xúc cảm có lợi nếu bạn dùng nó để chỉnh đốn lại những bất công và/hoặc bảo vệ bản thân lẫn những người khác.

Sung sướng có thể là một thứ cảm xúc tuyệt diệu để sẻ chia chúng với những người ta thương mến khi điều gì đó tốt đẹp xảy đến. Nhưng nó cũng có thể sẽ là một thứ xúc cảm đầy tệ hại nếu nó đến từ việc làm tổn thương những người khác.

Tất cả chỉ là việc kiểm soát cảm xúc trong mình: Nhận ra bạn đang cảm thấy điều gì, quyết định xem liệu đó có phải là thứ xúc cảm phù hợp với tình hình hay không, và hành động tương ứng theo.

Tất cả những điều này chỉ là việc có thể tạo một dòng chảy cho cảm xúc của bạn đi vào thứ mà các nhà tâm lý học vẫn gọi là “Hành vi hướng về mục tiêu” – hoặc thứ bản thân tôi thích gọi là “Hãy xốc lại đời mình.”

3. Học cách để tạo động lực cho chính bản thân

Bạn có từng bao giờ đánh mất mình hoàn toàn trong một hoạt động nào đó chưa? Như thể, bạn bắt đầu làm thứ gì đó và chìm đắm vào nó và khi bạn bật ra khỏi tình trạng gần như bị thôi miên mà bạn cách nào đó đã xui khiến chính bản thân mình lọt vào, rồi bạn chợt nhận ra đã ba tiếng đồng hồ trôi qua nhưng cảm giác như nó chỉ mới có 15 phút?

Điều này đôi khi xảy đến với tôi khi viết. Tôi đánh mất cảm giác về thời gian và tôi có cho mình cả một thác nước cảm xúc với những cung bậc huyền ảo khi tôi đang làm dồi dào thêm cho những ý tưởng của mình trong đầu và cố biến chúng thành lời văn. Nó như một cảm giác bị mê hoặc trộn lẫn với những tình tiết có phần hơi nản cùng một chút sự bùng nổ của chất dopamine khi tôi cảm thấy như mình vừa rớt ra một câu văn ra trò hoặc một chuyện đùa nhảm thú vị thế này thế nọ hay cách nào đó làm rõ được ý mình mà không phải văng tục.

Tôi yêu thứ cảm giác đó, và khi tôi tóm được nó, nó lại kích thích tôi tiếp tục viết.

Dù vậy, hãy lưu ý có vài điều hệ trọng ở ngay đây: Tôi không chờ cho thứ cảm giác đó trồi lên trước khi tôi bắt đầu cầm bút viết.

Tôi bắt đầu viết và sau đó thứ cảm giác ấy sẽ bắt đầu được dựng nên, thứ sẽ thúc đẩy tôi cắm cúi viết, và rồi cảm giác đó sẽ hình thành thêm chút nữa, cứ như thế từng chút một.

Đây là thứ tôi gọi là  “Hãy làm điều gì đó từ gốc của nó” và đó là thứ có vẻ đơn giản nhất nhưng cũng là “cú lừa” ma lực nhất mà tôi từng biết qua. Cái “Hãy làm điều gì đó từ gốc của nó” nói rằng Thực hiện hành động không chỉ đơn thuần là kết quả của động lực, nhưng còn là nguyên nhân của nó.

Hầu hết con người ta ban đầu đều cố đi tìm cho mình cảm hứng để có thể thực hiện những hành động quan trọng và thay đổi mọi thứ về bản thân lẫn tình hình hiện tại của họ. Họ cố xốc lại tinh thần cho mình với tất cả mọi hương vị từ việc thủ dâm tinh thần theo một cách đầy ấn tượng cả tuần lễ để cuối cùng có thể thực sự hành động. Nhưng vào tuần sau đó, họ hết thuốc và lại rớt ngược về trạng thái ban đầu, tiếp tục sóc lọ để tìm ra một “phương pháp” khác để tạo động lực.

Nhưng bản thân tôi lại thích lật úp hoàn toàn nó lại. Khi tôi cần được động viên, tôi chỉ đơn giản làm thứ gì đó mà thậm chí có vẻ cũng chẳng liên quan gì đến thứ tôi đang muốn đạt được và rồi, hành động sẽ sinh ra động lực và động lực lại sinh ra hành động, cứ thế.

Khi tôi không có hứng viết, tôi nói với bản thân rằng mình chỉ cần xử lý sườn bài thôi. Một khi tôi làm điều đó, nó luôn làm tôi nghĩ ra thứ gì đó hay ho thế nọ thế kia mà tôi chưa bao giờ nghĩ đến và rồi tôi muốn thêm chi tiết đó nên tôi viết nó xuống để có thể làm dồi dào nó thêm chút ít.

Trước khi tôi biết điều đó, tôi đã đi được nửa đường trong một bản nháp tay mà vẫn chưa kịp đóng quần dài vào.

(GHI CHÚ: Đây chỉ là vì tôi chả bao giờ đóng quần dài.)

Vấn đề là để sử dụng được cảm xúc của mình cho có hiệu quả để sốc lại tinh thần, bạn cần phải làm thứ gì đó.

Nếu bạn chẳng thấy có thứ gì có thể động viên được bản thân, thì cũng hãy làm thứ gì đó. Vẽ vớ va vớ vẩn, tìm lấy một lớp học lập trình miễn phí trên mạng, bắt chuyện với một người lạ, học một nhạc cụ, học hỏi thứ gì đó từ một chủ đề khó nhằn, làm tình nguyện trong cộng đồng của mình, đi nhảy salsa, làm một cái kệ sách, viết một bài thơ. Lưu tâm đến cảm giác của bạn trước, trong và cả sau khi bạn làm bất cứ thứ gì và rồi dùng lấy thứ cảm xúc đó định hướng cho những hành vi trong tương lai.

Và biết rằng không phải lúc nào bạn cũng sẽ được thúc đẩy bởi những cảm giác “tốt lành”. Thỉnh thoảng tôi cũng buồn bực và cực kỳ dễ nổi quạu mỗi lần không thể rớt ra chính xác thứ từ ngữ mà tôi muốn truyền tải. Đôi khi tôi cũng lo rằng những gì tôi đang viết sẽ không áp phê nổi người ta. Nhưng dù là lý do gì đi nữa, mớ cảm giác kiểu này chỉ làm tôi muốn viết nhiều hơn. Tôi luôn yêu cái khó của việc phải đánh vật với thứ gì đó vừa chớm vuột ra khỏi tầm tay mình.

4. Nhận ra thứ cảm xúc bên trong kẻ khác để xây dựng những mối quan hệ lành mạnh hơn

Mọi thứ chúng ta đã bàn luận đến giờ chỉ là việc giải quyết và định hướng được dòng cảm xúc trong mình. Nhưng vấn đề chính yếu của việc phát triển trí tuệ cảm xúc có lẽ cuối cùng cũng là để thúc đẩy những mối quan hệ lành mạnh hơn trong cuộc đời bạn.

Và những mối quan hệ lành mạnh – những mối tình lãng mạnnhững mối quan hệ trong gia đìnhtình bằng hữu, bất kể là thứ gì – đều luôn bắt nguồn từ việc nhận ra và tôn trọng những nhu cầu về cảm xúc của nhau.

Bạn làm điều này thông qua việc gắn kết và sự đồng cảm dành cho kẻ khác. Bằng cách cùng lắng nghe nhau và chia sẻ bản thân mình một cách thành thật với người khác – Đó mới chính là cách, thông qua cái yếu đuối và dễ bị tổn thương nơi nhau.

Để có thể đồng cảm được với một ai đó không nhất thiết nghĩa rằng bạn phải hoàn toàn thấu hiểu người đó, nhưng nên là chấp nhận con người họ như nó vốn là, thậm chí khi bạn chẳng thể hiểu nổi họ. Bạn học được cách để trân trọng sự tồn tại của họ và đối xử với họ như với chính bản thân họ hơn là như một phương tiện để đạt được thứ gì đó khác. Bạn nhìn nhận nỗi đau của họ cũng như nỗi đau của chính bản thân mình – như nỗi đau chung của tất cả chúng ta.

Những mối quan hệ chính là nơi sợi thun của cảm xúc vỗ vào mặt đường, nói theo kiểu cách ngôn là vậy. Chúng làm ta thoát ra khỏi đầu mình và đi vào thế giới quanh ta. Chúng làm ta nhận ra rằng ta vốn là một phần của thứ gì đó lớn hơn lẫn phức tạp hơn rất nhiều so với chính bản thân mình.

Và những mối quan hệ, cho đến tận cùng, chính là cách để ta xác định lại những giá trị cho mình.

5. Hãy lan tỏa cảm xúc trong mình cùng những giá trị

Khi sách của Daniel Goleman được tung ra vào những năm 90, “Trí tuệ cảm xúc” đã trở thành một cụm từ vô cùng thời thượng trong giới tâm lý học. Các CEO và cả những tay quản lý đọc lấy đọc để mớ sách thực hành lẫn xem lại trí thông minh cảm xúc để tạo động lực cho đám nhân công của mình. Các nhà trị liệu đã cố gắng dẫn truyền thêm nhiều hơn nữa sự nhận thức mang tính cảm xúc nơi khách hàng của mình hòng giúp họ kiểm soát được cuộc đời mình. Các bậc cha mẹ thì luôn được nhắc nhở để chăm lo tu dưỡng trí tuệ cảm xúc cho con cái họ với mục đích để chúng có được một tâm thế sẵn sàng trước một thế giới thay đổi đến chóng mặt lẫn luôn đặc mùi của những xúc cảm.

Tuy vậy, rất nhiều trong số những tư tưởng này đã bỏ quên một điều. Và rằng trí tuệ cảm xúc sẽ là vô nghĩa nếu không định ra được những giá trị cho chính bạn thân bạn.

Bạn có thể sở hữu một CEO có trí tuệ cảm xúc cao nhất quả đất, nhưng nếu bà ta chỉ sử dụng những kỹ năng của mình để tạo động lực cho nhân viên hòng bán được những sản phẩm có được từ chính việc bóc lột người nghèo hoặc tàn phá hành tinh này, thì làm sao mà thông minh cảm xúc có thể là cái đức ở đây được?

Một người cha có thể dạy con trai của mình về những luân lý của trí tuệ cảm xúc, nhưng nếu không dạy cho cậu ta giá trị của lòng trung thực và sự tôn trọng, cậu rất có thể sẽ trở thành một thằng oắt con tàn độc và đầy dối trá – nhưng đồng thời cũng lại là một đứa có trí tuệ cảm xúc!

Những kẻ hay lừa gạt lại thường rất thông minh về cảm xúc. Họ đọc được xúc cảm khá rõ, cả về bản thân họ và đặc biệt ở những người khác. Nhưng cuối cùng họ lại dùng thông tin đó để thao túng kẻ khác nhằm trục lợi cho chính bản thân mình. Họ coi trọng bản thân họ hơn bất kỳ thứ gì và kẻ khác mới luôn là người phải trả giá. Mọi thứ hẳn sẽ trở nên xấu xí khi bạn đánh giá thấp những thứ phía ngoài con người bạn.

Lisa Nowak, cùng với toàn bộ tài năng lẫn khả năng chuyên môn của mình, đã không thể kiểm soát những cảm xúc trong cô và đã xem trọng những thứ sai lầm. Do đó, cô đã để cho những cảm xúc của mình lái cô ra khỏi vách núi của những chuẩn mực, từ trong không gian vũ trụ bao la đi thẳng vào khoảng không sau song sắt nhà tù.

Cho đến cuối cùng, chúng ta sẽ luôn chọn nghe theo những gì chúng ta cho là có giá trị, dù ta có biết điều đó hay không. Và những cảm xúc trong ta sẽ luôn hiện thực hóa những giá trị này thông qua việc thúc đẩy hành vi của bản thân theo một cách nào đó.

Do vậy, để sống cuộc đời mà bạn thực muốn sống, trước tiên bạn phải rõ về những thứ bạn thực sự trân trọng vì đó sẽ luôn là nơi dòng năng lượng xúc cảm của bạn được hướng vào.

Và việc biết được thứ gì bạn thực sự coi trọng – không chỉ là những thứ bạn nói rằng mình sẽ coi trọng – chắc chắn mới là thứ kỹ năng với trí tuệ cảm xúc cao nhất mà bạn có thể đạt tới.

7 Bài học cuộc đời mà tác phẩm “Thiền và nghệ thuật bảo dưỡng xe máy” của Robert M.Pirsig đã dạy tôi

Bởi Anna Cieslik
25/04/2017

Nguồn: https://www.dailybreak.com/break/robert-m-pirsig-zen-and-the-art-of-motorcycle-maintenance-life-lessons

Nguồn: HarperCollins

Hôm thứ hai, Robert M.Pirsig, tác giả của cuốn sách “Thiền và nghệ thuật bảo dưỡng xe máy” (Zen and the Art of Motorcycle Maintenance hay viết tắt là ZAMM), đã qua đời ở tuổi 88 tại tư gia của ông ở Maine. Dù ông chỉ để lại cho đời hai tác phẩm, ZAMM và “Lila: một chất vấn về đạo đức”.

Cái nhìn triết học của chính Pirsig về cuộc sống vẫn đang đâu đó giúp đỡ cho vô vàn những thế hệ trên con đường ngộ ra một hành trình cuộc đời.

Khoảng hai năm về trước, tôi có tìm thấy một cuốn ZAMM bị bỏ trong một bụi cây phía ngoài một tiệm giặc là trong xóm. Vốn không phải loại người hay ngó lơ thứ sách bỏ đi, tôi nhặt nó lên và bắt đầu dán mắt vào. Một cuốn tự truyện có màu tiểu thuyết, đúng như cách nhiều người gọi ZAMM sau này, cuốn sách kể lại câu chuyện về chuyến hành trình xe máy xuyên quốc gia của Pirsig cùng cậu con trai của mình, nhưng nó còn là vô số những thứ khác hơn là một mẩu chuyện phiêu lưu. Qua hành trình của mình, Pirsig đã bằng cách này cách khác lý giải toàn bộ triết lý nhân sinh của ông, đã tạo ra cả một bản tuyên ngôn qua việc bảo dưỡng xe máy. Nghe thì hơi sáo rỗng, nhưng việc tìm ra cuốn sách đó đã thay đổi tất tần tật cách nhìn của tôi về cuộc đời sau này và vẫn đang có một tác động to lớn lên bản thân tôi.

Có tới hằng hà sa số những bài học có thể lĩnh ngộ trong ZAMM, nhiều hệt như số con đường có thể đi qua trên đất Hoa Kỳ. Nhưng phải nói riêng có một nhúm đạo lý vẫn sừng sững xuyên suốt tác phẩm. Đó là những thứ sẽ ám lấy bạn rất lâu cả sau khi bạn đã đặt cuốn sách xuống và sẽ giúp định hình lại quan điểm sống cho bạn. Với lòng kính trọng dành cho Pirsig và cho mọi thứ ông đã truyền dạy cho các độc giả. Sau đây là bảy bài học cuộc sống đang rất thịnh hành được tiếp thu từ ZAMM.

1. “Bạn sẽ không bao giờ thật để tâm vào thứ bạn hoàn toàn tự tin. Chả có ai ngông cuồng hét toáng lên rằng mặt trời sẽ mọc vào ngày mai. Họ biết nó sẽ lại trồi lên mà thôi. Khi con người ta dồn tâm sức điên cuồng vào một thứ niềm tin chính trị hoặc tôn giáo hoặc bất kỳ thứ giáo điều hay mục tiêu nào, nó chỉ luôn là vì họ đang nghi ngờ chính thứ giáo lý hoặc mục tiêu đó của mình.”

Trên hết tất cả, ZAMM dạy bạn rằng cuộc đời là một cuộc hành trình, không phải một đích đến. Điều này nghe vẫn có vẻ xưa như trái đất cả khi bạn đã chiêm nghiệm cuốn sách mãi cho đến luận điểm này, nhưng đó lại chính là cách mà Pirsig lý giải về góc nhìn của ông, thứ làm cho những thông điệp từ ZAMM trở nên độc đáo.

Chúng ta vẫn luôn được dạy rằng nghi ngờ là một điều xấu, là thứ gì đó phải lẩn tránh bằng mọi giá. Nhưng thực tế, sự nghi ngờ, cũng như mọi điều “xấu xa” khác trong đời, có thể thực ra lại là điều tốt nếu bạn dùng nó như một bài học. Ngờ vực dạy chúng ta trở nên mạnh mẽ và kiên cường. Không có nghi ngờ, chúng ta chả có cách nào để gia tăng niềm tin và lòng nhiệt thành của chính mình vào thứ gì đó. Nếu bạn bắt đầu nghi ngờ về thứ gì đó hệ trọng với bản thân mình và bằng cách nào đó tự thoát ra khỏi thời kỳ đen tối ấy với một niềm tin không hề sứt mẻ, thì dù đó là thứ niềm tin gì đi nữa, bỗng nó sẽ trở nên ý nghĩa hơn rất nhiều so với trước đó.

Nguồn: William Morrow – HarperCollins

2. “Nó có khó không?” “Sẽ là không nếu bạn có một thái độ đúng đắn. Nó chỉ khó đúng ngần ấy để có được một thái độ đúng đắn mà thôi.”

Nhiều lần, câu trả lời cho hàng loạt vấn đề trong cuộc sống chỉ có thể có được bằng sự thay đổi chính trong cách nghĩ. Đối với Pirsig, quan điểm cá nhân vốn đóng một vai trò cực lớn trong chuẩn mực sống của một người. Việc giải quyết một vấn đề nhưng lại không thể nêu lên bằng cách nào vấn đề đó đã xuất hiện từ ban đầu thì thực không phải là một đáp án mỹ mãn.

Một đề tài nổi bật xuyên suốt ZAMM chính là sự nỗ lực từ phía người dẫn chuyện để định nghĩa được hai từ “chất lượng” là gì. Ở đây, một giải pháp chất lượng là thứ không chỉ giải được vấn đề trước mắt mà còn là cả những nguyên nhân bao quát của nó. Và ở ngay tại điểm mấu chốt của toàn bộ vấn đề, nơi đó luôn hiện hữu một thái độ tổng quát, thứ vốn có thể và nên được trình bày ra. Dù bạn có đang phải đối mặt với an ninh toàn cầu hay chỉ là những dự định bị dập tắt bởi một ngày mưa, một sự thay đổi về quan niệm sống có thể sẽ thay đổi mọi thứ.

Nguồn: William Morrow – HarperCollins

3. “Khi ngồi trên một chiếc hai bánh thì khung thép sẽ mất đi. Bạn hoàn toàn tiếp xúc với mọi thứ. Chính bạn lọt vào trong khung cảnh đó, không chỉ là nhìn ngắm nó nữa, và khung cảnh của sự hiện hữu quả là nặng nề.”

Một trong những trọng tội xét về triết lý của Pirsig chính là tính thụ động. Quan sát mọi thứ thì ổn cả thôi và còn luôn được khuyến khích, nhưng việc từ chối học hỏi cũng như tương tác với thế giới xung quanh bạn thì lại không còn là sống nữa. Chỉ có kẻ thật sự chú tâm đến thế giới mới có thể lớn lên và trưởng thành. Còn lại, bạn chỉ mãi lo sợ về việc sẽ bị sập bẫy trong một góc nhìn cứng nhắc.

Đây là cách tốt nhất để học về cái gì là “chất lượng” thật sự, theo nghĩa triết học. Nghiêm khắc tập trung vào một cuộc sống với chất lượng đỉnh của đỉnh sẽ dẫn lối bạn đến với sự cuồng loạn vì bạn sẽ luôn phải dồn hết tâm trí vào việc bạn có thể làm hòng làm cho mọi thứ tốt hơn nữa. Nhưng nếu thay vì vậy bạn chỉ tập trung vào những thứ riêng lẻ để làm cho cuộc sống của bạn tốt hơn, bạn có thể học được kha khá. Một lần nữa, một hành trình, chứ không phải một đích đến, sẽ thật sự dạy bạn về cuộc đời.

Nguồn: HarperCollins

4. “Chúng ta hốt lấy một nắm cát từ bức tranh nhận thức bao la bất tận quanh mình rồi lại gọi đó là nắm cát thế gian.”

Hãy luôn nhớ rằng: Góc nhìn là mọi thứ ở đời. Pirsig không ngừng nhắc nhở độc giả rằng sự tự mãn trong đời luôn ở ngay đó cùng với bản tính thụ động trải dài trên một danh sách trong cuốn ZAMM về những thứ không nên làm trong đời. Khi ta quên đi rằng luôn có nhiều thứ hơn ngoài kia, ta sẽ ngưng tìm tòi thêm nữa và cuộc sống của ta sẽ nhanh chóng mất đi thứ chất lượng mà nó đã từng sở hữu.

Điều này không nhất thiết nghĩa rằng bạn phải phóng lên xe máy cùng con của mình và làm một chuyến dài 17 ngày xuyên nước Mỹ như Pirsig đã làm. Điều này chỉ có nghĩa rằng bạn không bao giờ được để cho bản thân rơi tọt vào cái hố của lề thói thường nhật. Thậm chí chỉ bằng việc cuốc bộ đến nơi nào đó thay vì lái xe hay tự mình đi đến một sự kiện và gặp gỡ người mới có thể sẽ làm bạn khám phá ra thứ gì đó mới mẻ và giúp góp thêm một hạt cát tri thức vào nhúm đời sống tinh thần nơi bạn.

17/04/1984 Ảnh trắng đen của Robert Pirsig, tác giả cuốn sách “Thiền và nghệ thuật bảo dưỡng xe máy”. Pirsig đã viết cuốn sách sau chuyến hành trình xuyên quốc gia của mình năm 1968. Ông và con trai 11 tuổi của mình, Chris, Đi từ St. Paul đến San Francisco. (File ảnh từ Pioneer Press: Craig Borck)

5. “Chúng ta có những nghệ sĩ chả có tí kiến thức khoa học nào và cả những nhà khoa học chả hiểu tí gì về nghệ thuật và rồi cả hai sẽ chẳng thể có ý niệm về một lực hấp dẫn trong thế giới tinh thần, và kết quả thì không chỉ là tệ hại, đó sẽ là khủng khiếp.”

Tính khách quan và chủ quan vốn không hề loại trừ nhau. Thực tế thì bạn cần có cả hai để đạt đến một cuộc sống chất lượng. Pirsig đã dành nhiều thì giờ vào ZAMM để lý giải sự khác biệt giữa những người chỉ nhìn vào sự lãng mạn ở đời và những kẻ chỉ chăm chăm vào cơ chế vận hành của nó.

Dấn thân quá mạnh vào bất kỳ góc nhìn nào ở đây cũng sẽ dẫn tới thảm cảnh vì bạn hẳn đã đánh mất đi một nửa của mọi thứ. Tưởng tượng thế này: Nếu bạn nhìn vào một bông hoa và chỉ thấy cơ chế của nó, bạn đã đánh mất đi vẻ đẹp mà nó đã mang đến cho đời. Nhưng nếu bạn chỉ nhìn vào dáng vẻ mỹ miều của nó, bạn lại đánh mất đi mọi thứ mà một bông hoa đã đóng góp cho thế gian như một phần của hệ sinh thái. Khi bạn nhìn thấy cả nét phơi phới bên ngoài và cả cái đẹp cơ chế nơi một bông hoa, nó thậm chí sẽ còn lộng lẫy hơn cả trước đó.

Nguồn: HarperCollins

6. “Những sườn núi mới chính là thứ duy trì được sự sống, không phải đỉnh núi. Đây mới là nơi mọi thứ phát triển.”

Nếu có cách nào khác tốt hơn để lý giải cho toàn bộ thứ khái niệm “Hành trình, không phải đích đến”, thì hẳn tôi đã chưa từng được nghe qua. Liên tục tập trung vào những hoạch định trong tương lai thay vì dừng lại để tận hưởng mọi thứ ở ngay thực tại này quả là không lành mạnh chút nào. Đó là cái kết của một hành trình không mang lại thành quả cùng hàng đống cơ hội bị bỏ lỡ và cả những tiếc nuối.

Chẳng có ai muốn ngoái nhìn lại đời mình và rằng, “Wow, tôi chắc rằng tôi mong mình đã trải nghiệm nhiều hơn nữa, nhưng chí ít thì tôi đã giàu!” Trong thế giới ngày nay, chúng ta vẫn luôn đánh đồng thành công về mặt tài chính với một thành công cụ thể. Nhưng với Pirsig, vấn đề là chất lượng của thứ thành công đó nơi bạn. Và nói thật thì, nghe ổn hơn nhiều so với việc chỉ sống một cuộc sống trong giàu sang nhưng vẫn không thể trọn vẹn cho đến cuối cùng.

Nguồn: Tom Zito

7. “Những người khác có thể nói về cách để kéo dài số phận của loài người. Tôi chỉ muốn nói về cách sửa một chiếc xe máy. Tôi cho rằng thứ mình nói ra sẽ có giá trị lâu bền hơn.”

Bạn chỉ đang hướng mình về với thất bại mà thôi nếu mục tiêu của bạn là đạt được thứ không thể; Bạn phải đi đến đó một cách tự nhiên. Đương nhiên rồi, bạn sẽ chẳng bao giờ thật sự đạt đến thứ mục tiêu không thể đó vì nó là, chà, không thể. Nhưng mà này, nó là một hành trình, không phải cái đích! (Ai đã từng thấy thứ đó tới nơi bao giờ chưa?)

Tôi nghĩ thứ tôi thích nhất ở Pirsig chính là khả năng của ông trong việc giữ cho chân mình đứng vững trên mặt đất, ở mọi thời điểm, dù cho đang phải đối phó với mấy chủ đề triết học nặng nề này. Bất kể khi nào mọi thứ trở nên quá phức tạp, bạn đều có thể nương tựa vào ông để mang mọi thứ trở về với thực tại. Đây là thứ làm cho cách nhìn độc đáo của ông về cuộc đời vẫn mãi thịnh hành. Nó chẳng hề tồn tại trong một vòm trời giả định như Con mèo của Schrödinger  hay Cái hang của Plato’s. Triết lý của Pirsig thật như chính con xe của ông và đó là một sự khởi đầu đáng hoan nghênh từ những câu chuyện ngụ ngôn cao cả mà những suy tưởng triết học vẫn thường xuyên bị vấy bẩn.
Mà, có ai lại muốn sống trong một thế giới chỉ toàn lý thuyết và chả có tí vật chất nào đâu?

Thiền Là Gì?

Bài viết được dịch từ chương 1. About Meditation, nằm trong quyển “Meditation: The First and Last Freedom“.

Tác giả: OSHO

Thiền là một cuộc phiêu lưu, phiêu lưu vào những điều chưa biết, cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất mà con người có thể thực hiện.

Thiền chỉ cần, không làm gì cả – không hành động, không suy nghĩ, không cảm xúc.

Bạn chỉ cần là bạn và đó là một niềm vui tuyệt đối. Khi bạn không làm gì cả thì niềm vui này đến từ đâu? Nó đến từ hư vô, hoặc nó đến từ bất cứ đâu. Nó là vô điều kiện bởi vì sự tồn tại được tạo ra từ những thứ gọi là niềm vui.

Sự Chứng Kiến, Tinh Thần Của Thiền Định.

Khi bạn không làm gì từ tinh thần cho tới thể xác hoặc bất kỳ cái gì-khi tất cả mọi hành động dừng lại và bạn đơn giản là tồn tại, đó gọi là thiền. Bạn không thể làm nó, bạn không thể thực hiện nó, bạn chỉ phải hiểu nó thôi.

Bất cứ khi nào bạn tìm được thời gian để tồn tại, hãy bỏ qua tất cả. Nghĩ cũng là đang làm, tập trung cũng là đang làm một cái gì đó, suy ngẫm cũng vậy. Thậm chí nếu có một khoảnh khắc bạn không làm gì cả và bạn chỉ ở trung tâm của chính bạn, hoàn toàn thư giản-đó là thiền. Và một khi bạn có khả năng tự nhiên của thiền, bạn có thể tiếp tục trong trạng thái đó bao lâu bạn muốn; Cuối cùng, bạn có thể ở trong trạng thái đó hai mươi tư giờ một ngày.

Một khi bạn trở nên nhận thức được cách mà bản thể của bạn có thể duy trì không bị xáo trộn, sau đó một cách chậm rãi bạn có thể bắt đầu làm mọi việc, giữ tỉnh táo rằng bản thể của bạn không bị xáo động.

Đó là phần hai của thiền-đầu tiên, học cách trở thành, và sau đó học những hành động nhỏ: lau nhà, tắm, nhưng vẫn giữ bản thân ở trung tâm. Sau đó bạn có thể làm những điều phức tạp.

Ví dụ như, tôi đang nói chuyện với bạn, nhưng thiền định của tôi không bị gián đoạn. Tôi có thể vừa đi vừa nói, nhưng tại trung tâm của tôi không có thậm chí là một gợn sóng; Nó chỉ đơn giản là yên lặng, hoàn toàn yên lặng.

Vậy nên thiền không chống lại hành động. Nó không phải là bạn phải bỏ trốn khỏi cuộc sống. Nó chỉ đơn giản là dạy bạn một cách sống mới: bạn sẽ trở thành trung tâm của một cơn lốc xoáy.

Cuộc sống của bạn tiếp tục, nó tiếp tục thật sự mãnh liệt hơn-với nhiều niềm vui hơn, rỏ ràng hơn, tầm nhìn rộng hơn và sáng tạo hơn-nhưng bạn vẫn đứng cách xa, chỉ là một người quan sát trên những ngọn đồi, đơn giản là nhìn vào tất cả những điều diễn ra xung quanh bạn.

Bạn không phải là một người làm, bạn là người quan sát.

Đó là tất cả bí mật của thiền, bạn trở thành người quan sát.

Tiếp tục ở cấp độ của riêng nó, không có vấn đề gì: chặt gỗ, kéo nước từ giếng. Bạn có thể làm việc nhỏ và việc lớn; chỉ duy nhất một đều không được phép và nó là: trung tâm của bạn không nên bị mất.

Sự tỉnh thức, quan sát này nên được duy trì hoàn toàn quang đảng, không xáo trộn.

Trong đạo Do Thái, có một trường phái nổi loạn bí ẩn được gọi là Hassidism. Người sáng lập ra nó, Baal Shem, là một bản thể hiếm gặp. Vào giữa đêm ông ta đến một dòng sông-đó là thói quen của ông, vì ở sông vào buổi tối hoàn toàn yên tĩnh và êm đềm. Ông ta đã từng đơn giản ngồi ở đó, không làm gì cả-chỉ nhìn bản thân mình, nhìn người quan sát. Đêm đó khi ông trở lại, ông đi qua nhà một người giàu có và người canh cửa thì đang đứng trước cổng.

Và khi người canh cửa cảm thấy khó hiểu vì hàng đêm vào đúng thời gian này, người đàn ông đó sẽ trở lại. Anh ta bước ra và nói, “Xin tha lỗi cho tôi vì làm phiền nhưng tôi không thể kìm nén sự tò mò của mình nữa. Ông đang ám ảnh tôi cả ngày lẫn đêm, ngày nào cũng vậy. Công việc của ông là gì? Tại sao ông lại đi đến dòng sông? Nhiều lần tôi đi theo ông, nhưng chẳng có gì hết-ông đơn giản là ngồi hàng giờ liền, và tới nửa đêm ông lại trở lại.”

Baal Shem trả lời rằng, “Tôi biết là cậu theo tôi nhiều lần, bởi vì đêm tối thì rất yên lặng nên, tôi có thể nghe tiếng bước chân của cậu. Và tôi biết mỗi ngày cậu đều trốn sau cách cổng. Nhưng không phải chỉ mình cậu tò mò về tôi, tôi cũng tò mò về cậu. Công việc của cậu là gì?”

Người gác cổng trả lời, “ Công việc của tôi ư? Tôi là một người canh cổng bình thường.”

Baal Shem nói tiếp, “Ôi chúa ơi, cậu đã cho tôi từ khóa. Nó cũng là công việc của tôi!”

Người canh cổng lại hỏi, “ Nhưng tôi không hiểu. Nếu ông là một người gác cổng thì ông nên canh cổng những căn nhà hoặc cung điện. Ông đang xem gì ở đây, khi đang ngồi trên cát?”

Baal Shem trả lời, “ Có một chút khác biệt: cậu đang quan sát ai đó ở bên ngoài có thể đi vào cung điện; Tôi đơn giản là nhìn người quan sát đó. Ai là người quan sát đó?

Đây là nổ lực của cả đời tôi; nhìn vào chính bản thân mình.”

Người gác cổng lại hỏi, “Nhưng đó là một công việc kỳ lạ. Ai trả công cho ông?”

Ông ấy trả lời, “ Đó là hạnh phúc tuyệt vời, một niềm vui , phước lành bao la, nó trả công một cách sâu sắc cho chính nó. Chỉ là một khoảnh khắc, và tất cả kho báu đều không là gì cả khi so sánh với điều đó.”

Người gác cổng nói rằng, “Điều này thật kỳ lạ. Tôi đã nhìn cả cuộc đơi tôi. Tôi chưa bao giờ trải qua một kinh nghiệm đẹp như vậy. Tối mai tôi sẽ đi với ông. Hãy dạy tôi. Bởi vì tôi biết cách nhìn-nó có vẻ cần một hướng đi khác; ông đang nhìn theo một số hướng khác nhau.”

Có một bước duy nhất, và đó là bước của định hướng, của chiều hướng. Mặc dù chúng ta có thể tập trung bên ngoài hoặc chúng ta có thể khép mắt lại và toàn bộ ý thức của chúng ta sẽ hướng vào trong trung tâm-và bạn sẽ hiểu, bởi vì bạn là người hiểu, bạn là sự tỉnh thức. Bạn không bao giờ mất nó. Bạn chỉ đơn giản nhận lại sự tỉnh thức bị vướng vào một ngàn lẻ một điều. Rút lại sự tỉnh thức của bạn từ mọi nơi và chỉ để nó nghĩ ngơi trong chính bạn, và bạn đã trở về nhà.

Cốt lõi thiết yếu, tinh thần của thiền định là học cách chứng kiến.

Một con quạ đang kêu…bạn đang lắng nghe. Có hai thứ-đối tượng và chủ thể. Nhưng bạn có thể thấy một người chứng kiến đang nhìn cả hai thứ không?-con quạ, người lắng nghe, và vẫn có một ai đó đang nhìn cả hai. Nó là một hiện tượng đơn giản.

Bạn đang nhìn một cái cây: bạn ở đó, cái cây ở đó, nhưng bạn có thế tìm thấy một điều gì khác nữa không?-đó là bạn đang nhìn cái cây, có một người chứng kiến trong bạn, đang nhìn bạn và nhìn cái cây.

Quan sát là thiền. Những gì bạn nhìn là không liên quan. Bạn có thể nhìn những cái cây, bạn có thể nhìn dòng sông, những đám mấy, bạn có thể nhìn đám trẻ con đang chơi đùa. Quan sát là thiền. Cái bạn nhìn không phải là vấn đề; đối tượng cũng không phải là vấn đề.

Chất lượng của sự quan sát, trở nên tỉnh thức và tỉnh táo-nó là thiền.

Hảy nhớ một điều: Thiền nghĩa là tỉnh thức. Bất cứ điều gì bạn làm với sự tỉnh thức là thiền. Hành động không phải là một vấn đề, mà là tiêu chuẩn bạn mang lại cho hành động đó. Đi bộ có thể là một phép thiền nếu bạn đi tỉnh táo. Ngồi có thể là thiền nếu bạn ngồi tỉnh táo. Nghe tiếng chim có thể là thiền nếu bạn nghe với sự tỉnh thức. Chỉ lắng nghe tiếng động từ bên trong bạn có thể là  một phép thiền nếu bạn duy trì tỉnh táo và cảnh giác.

Toàn bộ vấn đề là, người ta không nên duy chuyển vào giấc ngủ. Sau đó bất cứ điều gì bạn làm là thiền.

Bước đầu tiên trong sự tỉnh thức là luôn luôn quan sát cơ thể của bạn. Một cách chậm rãi, chậm rãi để tỉnh táo về từng cử chỉ, từng chuyển động. Và khi bạn trở nên tỉnh thức, một phép màu bắt đầu xảy ra; nhiều điều bạn đã từng làm trước đây đơn giản là biến mất; cơ thể bạn trở nên thư giản hơn, hòa hợp hơn. Một sự yên bình sâu thẳm bắt đầu xuất hiện thường xuyên trong cơ thể bạn, một âm thanh kỳ diệu phát lên bên trong bạn.

Sau đó bắt đầu nhận thức được suy nghĩ của bạn; tương tự những gì xảy ra với suy nghĩ. Chúng tinh tế hơn cơ thể và chắc chắc rằng cũng nguy hiểm hơn. Và khi bạn trở nên nhận thứ về những suy nghĩ, bạn sẽ ngạc nhiên bạn đang nghĩ gì bên trong. Nếu bạn viết xuống bất kỳ suy nghĩ gì xảy ra trong bất cứ khoảnh khắc nào, bạn là một điều ngạc nhiên lớn. Bạn sẽ không tin rằng những điều đó đang diễn ra bên trong bạn.

Và sau mười phút đọc lại-bạn sẽ thấy một đầu óc điên rồ bên trong! Bởi vì chúng ta không nhận thức, toàn bộ sự điên rồ này tiếp tục chảy như một một mạch nước ngầm. Nó ảnh hưởng vào bất cứ điều gì bạn đang làm, bất cứ điều gì bạn không làm; nó ảnh hưởng mọi thứ. Và tất cả điều này là cuộc sống của bạn! Nên những người điên cần phải thay đổi. Và phép màu của sự tỉnh thức là bạn không cần làm bất cứ điều gì ngoài việc trở nên tỉnh thức.

Chính sự kiện quan sát nó diễn ra. Một cách chậm rãi, chậm rãi người điên biến mất; từ từ những ý nghĩ bắt đầu rơi xuống một khuôn mẫu nhất định; chúng không hỗn loạn nữa, chúng trở thành một vũ trụ. Và một lần nữa, một sự bình yên sâu sắc xuất hiện. Và khi cơ thể và đầu óc của bạn bình yên, bạn sẽ thấy chúng hòa hợp như thế nào. Có một cây cầu. Giờ chúng có thể chạy theo các hướng khác nhau, cưỡi trên những con ngựa khác nhau. Lần đầu tiên có sự hòa hợp, và sự hòa hợp đó giúp ích rất nhiều cho bước thứ ba-đó là trở nên tỉnh thức với cảm giác, cảm xúc, tâm trạng của bạn.

Đó là lớp tinh vi nhất và khó nhất, nhưng nếu bạn nhận thức về những suy nghĩ, sau đó chỉ còn một bước nữa thôi. Nhận thức mạnh mẽ hơn một chút là cần thiết và bạn bắt đầu phản chiếu tâm trạng, cảm xúc, cảm giác của bạn. Một khi bạn tỉnh thức toàn bộ ba điều đó, toàn bộ chúng sẽ tham gia vào một hiện tượng. Và khi tất cả hòa làm một-hoạt động cùng nhau một cách hoàn hảo, cùng nhau ngân nga, bạn có thể cảm nhận được âm nhạc trong cả ba cảm xúc đó; chúng sẽ trở thành một bản giao hưởng, và rồi bước thứ tư xuất hiện, điều mà bạn không thể làm được, nó xảy ra theo cách riêng của nó. Đó là món quà cho toàn bộ quá trình, là phần thưởng cho những ai đã hoàn thành ba điều trên( Tỉnh thức với cơ thể, suy nghĩ và cảm xúc).

Và bước thứ tư là sự tỉnh thức cuối cùng khiến một sự thức tỉnh xảy ra. Một khi trở nên nhận thức về sự tỉnh thức-Đó là bước thứ tư. Bước tạo nên Đức Phật, sự thức tỉnh. Và chỉ trong sự thức tỉnh đó người ta mới biết hạnh phúc là gì. Cơ thể biết niềm vui, tâm biết hạnh phúc, tim biết hân hoang, điều thứ tư là biết phúc lạc. Phúc lạc là mục tiêu của các vị thầy, của người tìm kiếm, và tỉnh thức chính là con đường được hướng tới.

Điều quan trọng là quan sát, bạn không được quên quan sát, bạn đang nhìn…nhìn…nhìn. Và từ từ, chậm rãi, như một người chứng kiến ngày càng vững chắc, ổn định, không lay chuyển, một sự chuyển hóa xảy ra. Những điều bạn đang quan sát sẽ biến mất.

Cho khoản thời gian đầu tiên, bản thân người quan sát trở thành bị quan sát, và người quan sát trở thành sự quan sát.

Bạn đã về nhà.

What is apple, mom?

By BACH PHAM
Updated TUESDAY, DECEMBER 25, 2018

Just wonder, have we ever asked, what is language actually? Or a bit more naïve, it’s like, a little boy running toward his mommy, grabs her pants then babbles, “What is apple, mom?”

Then, is there anyone used to ask themselves that, why “miscommunication” is one of the most popular and top searched keywords on Google in the past few years. Needless to say in regard to businesses, it must be a disaster that never had a proper solution.

On second thought, language is basically an extremely abstract stuff which only affects 3 out of 5 “traditional” senses in humans, yet we are using that abstraction to convey a much more abstract and complicated thing ever, ideas.

For me, reality is always one and only, although we humans have created hundreds of languages to “describe” that reality. Thus Zen masters have not taught that truth can never be told, then the truth that can be told is no longer the eternal truth?

Holding an apple-like reality

Indeed, if I hold an apple in my hand, for myself (As a fake Saigonese), I will just point at the apple and say “Quả này là quả này” or “This is this”. That is the unchanging and unique reality of what is existing in my hand then. However, the only reality is now called “Apple” by Americans, we Vietnamese call “Táo”, the French will utter “La pomme” while Roman Empire will hang one who refuses to call it “pomum”.

Even more interestingly, what we are considering “meaning” of a random word is merely our mother tongue to express itself. For instance, for a Vietnamese, the meaning of the word “Apple” or “La pomme” is “Trái táo” while according to a French, the word “Apple” or “Trái táo” now means “La pomme”. Therefore, at the end of the day, what is the thing that actually gives meaning for something else? Or from the very first moment, the notion of so-called “meaning” has not ever existed. Nothing possesses an ultimate meaning, that’s why.

With that in mind, it can be seen that different linguistic systems existing in one’s brain are similar to many concentric rectangles with their mutual central point is going to be image that perceived from our eyesight and four vertices of the corresponding rectangle will be treated as signals from our remaining four senses. Thereafter I have hypothesized that our third eye or sixth sense is actually a point locating out of this rectangular plane (This point hence belongs to another spatial dimension). This third eye will hold exactly same effect as our current vision or literally physical eyes, which is also creating an abstract image in a thinking process while electric current running through human brain when we see things. This demonstrates why brilliant inventors often use “dark room method” (Or even sensory deprivation floatation tanks) to “hunt” ideas falling from “up there”.

New York City Birth Certificate

Sadly, we are living in a too-much-civilized society that everything must own a name and a proper brand. Then each individual’s existence itself in life is unconsciously associated with a randomly defined name in their I.D. or civil registration. We suppose the so-called name would help identify and control every single thing in life. We are wrong again though. Your name is not you, as Leo Tolstoy has once cried out in his famous Confession that who was Leo Tolstoy and Leo Tolstoy was not him. The reality itself has no name but we ourselves have hopelessly tried to give it a name with our chaotic and modernizing linguistic systems. And they thus misunderstand each other, sympathy will soon fade out, then they disagree, then they war, one after another.

Prof. Ho Ngoc Dai, father of the highly controversial “Educational technology” text book

For those reasons, we need to pay more attention to language, as once said by our respectful professor Ho Ngoc Dai, along with his “shape-based spelling education” model, we have to be aware of what is the real thing, what is purely substitute, to be able to guide our kids. Disappointedly, such dedicated educator has been suffering from relatively low-educated crowd so that he was somehow labeled as “Vietnamese educational disaster” last year.

By looking into linguistic field, in the end, I have figured out an interrelating diagram between one and only reality (Visionary images) and signals from other human senses (As cover image). Thereby, I have partly found out a more optimal approach to boost up efficiency when our brains learn any vocabulary words in particular as well as to perceive surroundings in general through our sense of sight.


Interrelating diagram between human perception and objective reality

All in all, when human brain acquires and learns a new word after clearly comprehending their own native language, it will be the best practice to build up 14 connecting links regarding specific vocabularies (So-called action verb or a doable activity with appropriate illustration, including both transitive and intransitive verbs) and 10 connecting links for “abstract” or non-action verbs (without an illustration). This explains why those words we have reviewed will continuously be forgotten in a near future. Leerit method itself along with one of the most trendy vocabulary application has recently been utilizing 4 out of 10 connecting links mentioned above since it was still not equipped with learner’s voice recognition feature.

Eventually, after filtering out those trivial connecting links, I retain four strong links to study action verbs and 3 efficient links to grab non-action verbs.
Hope to be able to assist the young to brush up on their vocabulary learning process for any second language.

So, “Apple is nothing but itself, son.”

Saigon, Christmas Eve, 2018
Original link:
https://www.facebook.com/notes/bach-pham/t%C3%A1o-l%C3%A0-g%C3%AC-v%E1%BA%ADy-m%E1%BA%B9/2595160530511401/

Nghĩ lớn, tự do, làm tình… 10 lý do để là một nhà hiện sinh

Những người theo chủ nghĩa hiện sinh (Existentialist) đã nêu bật ra những câu hỏi trọng tâm – và vẫn còn nhiều câu trong đó để gửi gắm cho chúng ta ngày nay. Vậy hãy tròng áo cổ lọ vào và bắt chước Sartre và De Beauvoir nào.

Viết bởi: Sarah Bakewell
Thứ sáu, 4/3/2016
Nguồn: https://www.theguardian.com/books/2016/mar/04/ten-reasons-to-be-an-existentialist


Sartre, De Beauvoir và đạo diễn Claude Lanzmann đang dùng bữa tối tại Paris, 1964. Ảnh: Bettmann/Corbis

Tôi đã là một nhà hiện sinh từ thời thiếu niên. Tôi đã trở nên một trong số họ ở tuổi 16 sau khi chi hết số tiền sinh nhật bà cho vào cuốn Buồn nôn (Nausea) của Jean-Paul Sartre. Chính cái bìa sách đã cuốn hút lấy tôi, cùng với bức họa của Dali vẽ cái đồng hồ đang tan chảy và mảng tường đá xanh trông đến bệnh, đệm thêm vào là dòng quảng cáo miêu tả rằng “Cuốn tiểu thuyết của sự tha hóa nhân cách và bí ẩn của sự tồn tại”. Tôi đã không biết điều gì là bí ẩn đối với sự tồn tại, hoặc sự tha hóa nghĩa là gì – dù chính tôi là một mẫu hình lý tưởng của điều này vào thời điểm đó. Tôi chỉ đoán đó sẽ là cuốn sách hợp với mình. Thật sự là vậy: Tôi ngay lập tức dính chặt vào với nhân vật chính của nó (protagonist) Antoine Roquentin, người hay lang bạt vòng quanh cái thị trấn giáp biển của hắn, nhìn chằm chằm vào những thân cây và những hòn đá cuội dọc bờ biển, để cảm được cái ghê tởm thể xác ở cái thực tại chỉ đơn thuần là nhỏ giọt của chính nó, và phăng ra những lời bình đầy khinh bỉ về phía tầng lớp tư sản. Cuốn sách đã truyền cảm hứng cho tôi: Tôi chơi trò cúp học và cũng cố gắng phiêu bạt lòng vòng thị trấn của tôi ở Reading. Tôi thậm chí còn đi vào công viên và cố gắng nhìn cho ra sự tồn tại của một cái cây. Tôi không chỉ nhìn qua loa, nhưng rồi tôi đã quyết định rằng tôi muốn theo học triết, đặc biệt là thứ triết lý kỳ quặc này của Sartre, thứ mà tôi đã được dạy chính là “Chủ nghĩa hiện sinh”.

Chẳng ai có thể nói chắc chủ nghĩa hiện sinh là gì, vì những nhà tư tưởng chủ đạo của dòng này cũng đã bất đồng về chính thứ lý luận của nó và nhiều người trong số họ cũng đã từ chối để là một nhà hiện sinh đúng nghĩa. Trong số một vài trường hợp ngoại lệ đó là hai con người lỗi lạc, Sartre và “tình hờ” của ông là Simone de Beauvoir, người đã chấp nhận cách gọi này chủ yếu vì cả hai đều đã mệt khi cứ phải bảo với mọi người rằng đừng gọi họ như thế.

Họ đã giải quyết những vấn đề triết học của mình một cách vô cùng cẩn trọng, nhưng những người kế thừa của họ lại hay nhìn nhận chủ nghĩa hiện sinh như một phong cách hoặc một thứ thái độ hơn là một hệ thống niềm tin. Nhiều thế hệ của những người trẻ không chịu một tác động nào trước tôi đã ngồi trong những quán cà phê với một cuốn sách mỏng của Sartre hay Albert Camus đặt trên bàn ngay trước mặt họ, phì phèo thứ thuốc lá nặng từ những vỏ bao màu xanh lam rồi bàn luận về tính vô thường và cả sự hoang mang. Vào những năm 1940, khi thời trang hiện sinh lên đời, đàn ông thì bận những chiếc áo mưa và áo sơ mi kẻ sọc ca rô, còn phụ nữ thì cho phép tóc mình được nuôi dài và buông thòng xuống như cách một tay nhà báo hẳn sẽ cho rằng trông như “nạn nhân của một vụ đuối nước”. Về sau, đến lượt áo len cổ lọ đen lên ngôi – thứ hẳn đã làm cho mọi người ra mồ hôi như  tắm trong những câu lạc bộ nhạc Jazz ngầm nằm dọc bờ trái sông Seine của thành phố Paris, nơi họ vẫn tìm đến để nhảy nhót.

Ban ngày, họ hi vọng sẽ hiểu được ý đồ của những cây viết huyền thoại – Camus cùng bề ngoài trông như diễn viên điện ảnh, De Beauvoir cùng cái khăn turban và đôi mắt mí lót gợi cảm của bà, hay Sartre cùng tẩu thuốc, vẻ ngoài ngớ ngẩn và cả kiểu tóc chải ngược của ông. Cho đến ngày nay, toàn bộ khung cảnh dường như đã chìm vào hoài niệm. Trong khi đó, những suy tưởng từ các nhà hiện sinh về sự tự do lẫn cái nổi loạn của một thời tuổi trẻ đã hầu như trở thành một phần của thứ văn hóa đại chúng đến nỗi chúng ta khó có thể nhớ ra rằng chúng đã từng mang đầy tai tiếng một thời.

Tôi đã bị thuyết phục rằng chủ nghĩa hiện sinh chỉ nên được nhìn nhận chỉ hơn một niềm ham mê, tuy nhiên, cả là như vậy thì nó vẫn có điều gì đó để gửi gắm đến chúng ta ngày nay. Trên tinh thần thực nghiệm, đây là 10 lý do khả dĩ để là một nhà hiện sinh – hay chí ít là để tìm đọc mớ sách của họ với thứ cảm giác mới lạ của sự tò mò.


Deux Magot, Paris, nơi vẫn được lui tới bởi Sartre và De Beauvoir. Ảnh: Terry Cryer/Corbis

1. Các nhà hiện sinh là những nhà triết học sống

Thứ triết học mà Sartre, De Beauvoir và nhiều nhiều bạn bè của họ đã lĩnh hội ở trường đại học là một thứ quy luật khó hiểu, nhiều trong số đó đã bị ám ảnh với câu hỏi làm cách nào chúng ta có thể nói chắc được 100% về bất cứ thứ gì. Đó là công việc quan trọng, và ai đó phải giải được nó. Nhưng Sartre và De Beauvoir đã phát ngấy với chuyện này và chuyển hướng quan tâm nhiều hơn đến những bộ não không chính thống ở thế kỷ 19 như Friedrich Nietzsche và Soren Kierkegaard, cùng với triết lý của họ về sự tồn tại cá thể và “sự sống”. Họ còn phát hiện ra một cách thức mới của người Đức gọi là “Hiện tượng học”, thứ luôn cố gắng bắt đầu bằng một thử nghiệm tức thì thay vì những định lý trừu tượng. “Bạn thấy đấy,” Bạn của Sartre Raymond Aron đã nói như thế, người đã giới thiệu vài ý tưởng về cocktail trong một quán bar suốt kỳ nghỉ đông năm 1932-33, “Nếu bạn là một nhà hiện tượng học bạn có thể nói về cocktail và từ đó giải ra triết học!”

Sartre đã vô cùng hào hứng khi nghe về điều này rồi ông bỗng hóa trắng bệt, theo lời De Beauvoir. Ông đi Đức học về triết trong một năm, sau đó trở về để làm việc với thứ triết học dựa trên chính những trải nghiệm của một người con Paris rất riêng. Ông đã tạo ra thứ triết học không chỉ của cocktail mà còn là của cà phê và nhạc Jazz, của những chuyển động từ mấy gã bồi bàn khi họ lả lướt trên sàn để châm rượu cho ông; của những khách sạn nhếch nhác và cả những vườn hoa hè phố; của niềm đam mê dành cho những tình nhân đang nồng cháy hay sự thay áo với một kẻ mà ta không vừa mắt; của sự lo sợ, niềm hân hoan, cái choáng váng, niềm tủi nhục, chiến tranh, cách mạng, âm nhạc và cả tình dục. Đặc biệt là tình dục.

Ông đã nhấn mạnh vào tầm quan trọng của việc phải hành động để sống với triết lý của mình, thứ tương ứng với việc cỗ võ người đọc chống lại chủ nghĩa thực dân, nạn phân biệt chủng tộc, phân biệt giới tính và toàn thể những con quỷ của xã hội trên nền tảng hiện sinh. Martin Luther King Jr là một trong những người đọc cả ông và Martin Heidegger, nhà hiện tượng học người Đức, người đã có ảnh hưởng lớn nhất lên Sartre. Và khi làn sóng cải cách xã hội cuối cùng chạm đến những cuộc nổi dậy của tầng lớp sinh viên và công nhân năm 1968 tại Paris và những nơi khác, những kẻ nổi loạn đã sơn lên bờ tường những khẩu hiệu đặc mùi tinh thần hiện sinh: “Chẳng có Thượng Đế cũng như những người thầy”, hay “Hãy thực tế: Đòi hỏi những điều không thể”. Sartre đã nhìn ra con người của những năm 68 đã muốn mọi thứ và cả là chẳng thứ gì – nghĩa rằng họ đã muốn sự tự do.

2. Những nhà hiện sinh thật sự quan tâm đến sự tự do


Beauvoir và Sartre ở Paris, tháng sáu năm 1977. Ảnh: Hiệp hội nhà báo

Những nhà hiện sinh cho rằng điều làm con người khác biệt với những loài khác chính là sự thật rằng chúng ta có thể chọn việc để làm. Thật tế, chúng ta phải chọn: Điều duy nhất chúng ta không thể tự do làm là không tự do. Những thực thể khác đã có cho mình một vài đặc tính được định sẵn: Một hòn đá, một con dao bỏ túi hoặc thậm chí là một con bọ cánh cứng chỉ là thứ mà nó là. Nhưng là một con người, chẳng hề có một bản thiết kế để tạo ra tôi. Tôi có thể chịu ảnh hưởng của sinh vật học, văn hóa và cả lý lịch cá nhân, nhưng tại mỗi thời điểm tôi đang tự tạo ra chính mình khi tôi đi cùng nó, phụ thuộc vào thứ mà tôi chọn làm kế tiếp. Như cách mà Sartre nói: “Chẳng có con đường nào có thể truy ra được để dẫn dắt con người đến với sự cứu rỗi; anh ta phải không ngừng định ra con đường của riêng mình. Nhưng, để tạo ra nó, kẻ đó phải tự do, phải có trách nhiệm, không được biện giải, và rồi mỗi một niềm hi vọng đều sẽ nằm bên trong chính bản thân anh ta.” Điều đó quả là kinh khủng nhưng cũng tràn đầy vẻ hồ hởi.

Điều đó có ý nghĩa gì với chúng ta ngày nay, nếu chúng ta thật sự tin vào tư tưởng này? Để bắt đầu, chúng ta có thể nghi ngờ nhiều hơn về những tranh luận giản đơn mang tính khoa học đại chúng, thứ luôn cho rằng chúng ta không thể kiểm soát chính mình – Để rồi, khi chúng ta mấp máy môi, nhấp chuột, bỏ phiếu, chúng ta chỉ đi theo những mãnh lực tiềm thức hay những hành vi có thể đoán được dựa theo thống kê hơn là ra quyết định một cách tự do. Thứ khơi gợi tôi chính là sự tò mò mà có vẻ chính chúng ta đã nắm bắt được; đó là thứ dù vậy chúng ta vẫn thấy thoải mái hơn là khó chịu. Nó làm ta thoát ra khỏi cái bẫy, lấy đi cái lo lắng về hiện sinh vốn đi cùng với việc phải ra một quyết định thật sự. Nó cũng có thể nguy hiểm: Những nghiên cứu khác cho rằng những người đã bị tẩy não và không có tự do sẽ có xu hướng thực hiện những lựa chọn kém đạo đức hơn.

Vậy sẽ có một câu hỏi cho vấn đề tự do xã hội. Sau thập niên 60, cuộc chiến dành tự do cá nhân có vẻ đã dành được chiến thắng hoàn toàn. Những thành tựu là vô cùng to lớn – nhưng dù vậy, trong thế kỷ 21, chúng ta vẫn thấy mình vô cùng mông lung hơn bao giờ hết về giới hạn tự do của chính mình bao gồm cả quyền xúc phạm và vi phạm luật pháp, và liệu bao nhiêu phần trong đó chúng ta sẽ muốn thỏa hiệp để đổi lấy sự thoải mái, tính giải trí hay cả cái ảo ảnh về một viễn cảnh an ninh tuyệt đối. Sự tự do có thể sẽ trở thành một trong những câu đố vĩ đại nhất của thời đại chúng ta, và những hành động quyết liệt từ những nhà hiện sinh về vấn đề này có thể sẽ đáng để xem lại một lần nữa.

3. (Một vài) những nhà hiện sinh có hứng thú với đời sống tình dục


Camebert, món ăn ưa thích của Sartre? Ảnh: Maximilian Stock Ltd/Photocuisine/Corbis

Sartre và De Beauvoir đã áp dụng triết lý về tự do của họ, trên hết, với chính mối quan hệ giữa họ, một cuộc tình thành công vang dội kéo dài nửa thế kỷ từ khi bắt đầu vào năm 1929 cho đến ngày qua đời của Sartre năm 1980. Họ muốn chia sẻ cuộc sống của mình nhưng không muốn chấp nhận những ràng buộc tầm thường, do đó họ đã chấp thuận duy trì người bạn đời ban đầu trong khi vẫn đắm chìm vào mối quan hệ đa thê với cả những người khác.

Điều này rõ ràng đã dẫn tới một vài hành vi nhạt nhẽo, như khi  De Beauvoir có quan hệ với những học trò trẻ tuổi của chính mình trước khi rõ ràng nói lại với Sartre. Ông ấy là một kẻ cám dỗ hàng loạt: Một gã phóng viên hèn hạ năm 1945 đã cười khanh khách trước lời đồn rằng ông đã quyến rũ phụ nữ lên phòng ngủ của mình bằng cách mời họ ngửi thử miếng bánh phô mát Camembert của ông (Chà, phô mát ngon quả là khó có vào năm 1945).

Chúng ta phải nhớ rằng lối sống của họ đã được nuôi dưỡng trong sự phản kháng quyết liệt của những hiệp ước “tư sản”, thứ mà họ đã lớn lên cùng. Trong một thế giới luôn kỳ vọng con người ta kết hôn, tích lũy tài sản và cả những đứa trẻ, tuân giữ những vai trò truyền thống theo giới tính, trong khi ngay bên cạnh lại có những chuyện đành phải giữ im lặng. Sartre và De Beauvoir thay vì vậy đã chọn sống theo triết lý của chính mình về sự trung thực và tự do lựa chọn.

Khát vọng về sự phá vỡ những tư tưởng được thẩm thấu về giới tính của De Bourvoir đã giúp tạo động lực cho cô trở thành nhà tiên phong trong việc đòi nữ quyền những năm 1949. Giới Tính Thứ Hai – Văn bản hiện sinh có sức ảnh hưởng rộng rãi nhất từng được sản xuất. Cô đã sắp xếp các chứng cứ để chỉ ra, theo một quy mô ấn tượng, rằng làm cách nào phụ nữ lại lớn lên với sự ngần ngại nhiều hơn và tự vấn bản thân gấp đôi nam giới, và cũng ít nghiêng hơn về hướng theo đuổi những mục tiêu cơ bản mang tính hiện sinh như chịu trách nhiêm về cuộc đời của chính họ. Với nhiều phụ nữ, sau cùng họ lại đọc sách, quyết định rũ bỏ những trở ngại của chính mình và lại gắng sức hơn nữa.

Chương sách gây chấn động nhất thời bấy giờ có liên quan đến quan hệ đồng tính nữ – Và Sartre, cũng vậy, là một nhà cổ động cho quyền đồng tính nam, mặc dù ông vẫn bị thuyết phục rằng giới tính là một vấn đề của sự lựa chọn hiện sinh hơn là một thực tại được ban cho ví như mắt xanh hay tóc màu tối. Bằng cách nào đi nữa, triết lý về tính tự xác định của Sartre hay của De Beauvoir đều đã ủng hộ người đồng tính sống đầy tự do và thẳng thắn, hơn là cố gắng để hòa hợp với ý niệm từ những người khác về cách họ nên là.

Do vậy, nếu thái độ của Sartre và De Beauvoir về vấn đề giới tính đã thỉnh thoảng đưa lối họ đến với những cách hành xử tệ hại thì nó cũng đã đưa họ đến với việc đòi bình đẳng cho phái yếu và là một lời tuyên bố mạnh mẽ cho quyền đồng tính vào một thời điểm mà khi chỉ một số ít người thậm chí dám bàn luận về những điều như vậy.

4. Các nhà hiện sinh bàn luận về những thực tại nhức nhối

Không phải toàn bộ trường phái hiện sinh đều bàn về thú vui thể xác. Nó cũng đối mặt với những khía cạnh về điều kiện của loài người mà chúng ta có thể không thích nghĩ về, nhưng nó sẽ không biến đi mất.

Một là sự hoang mang. Ngày nay, chúng ta hay tiếp cận với điều này như một chứng rối loạn về nhu cầu hỗ trợ điều trị, nhưng những nhà hiện sinh đã nhìn nhận nó như một phần hệ trọng của trải nghiệm làm người, và cũng đặc biệt tiết lộ về tình hình của chính chúng ta trong thế giới này. Heidegger đã miêu tả những khoảnh khắc của “thứ cảm giác kỳ lạ”, khi mỗi ngày mọi thứ bỗng trở nên lạ lùng và phiền phức, và chúng ta không còn coi đó là lẽ thường nữa. Camus cũng vậy, ông đã viết về thời điểm mà bỗng “sự mỏi mệt vang lên màu kinh ngạc”, chúng ta dứt bỏ thói quen hàng ngày của chính mình để rồi tự hỏi chính mình câu hỏi cơ bản nhất: Chính xác là vì sao tôi lại tiếp tục tồn tại?

Với Heidegger, chúng ta còn đụng phải cái nhận thức đáng sợ rằng, dù tôi có làm gì đi chăng nữa, ngày nào đó tôi sẽ phải chết. Tôi không hề bất tử, và chính cái hữu hạn này là một phần của thứ tôi là. Nếu tôi ôm trọn lấy sự thật này, tôi có thể chạm đến thứ dáng hình vượt trội của cái ông hồ hởi gọi là “Sự hiện hữu tiến về cái chết”. Sartre và De Beauvoir cũng từng viết về cái chết, nhưng với họ nó không thể được ôm ấp một cách quá khả quan như vậy. Cái chết như một sự cuồng nộ tìm đến chúng ta từ bên ngoài cuộc sống và rồi hoàn toàn xóa sổ ta đi. Chí ít, điều chúng ta có thể làm là chống lại sự an ủi sai lầm của thứ niềm tin vào sự bất tử. Một vài nhà hiện sinh thực có niềm tin vào tôn giáo, nhưng Sartre và De Beauvoir đều là những kẻ vô thần mang trong mình một căn tính nhân văn; Sartre đã nói rằng ông đánh mất niềm tin ở tuổi 11 khi đang đứng ở một trạm xe buýt. Họ bị mắc kẹt vào chính bản án rằng đây là cuộc sống mà ta có, và rằng nghĩa vụ của ta là hãy sống nó tròn đầy và theo một cách chân thực nhất có thể.

5. Các nhà hiện sinh luôn cố gắng để thành thực


Những thứ thật… những chiếc đĩa than. Ảnh: Lisa Valder/Getty

Dù có khó khăn đến đâu đi nữa, các nhà hiện sinh nhìn chung đều gắng sức để được “thực”. Họ xem điều này nghĩa rằng ít tự lừa dối mình hơn, quyết đoán hơn, tận tâm hơn và cả sẵn sàng hơn để gánh lấy trách nhiệm cho thế giới.

Hầu hết mọi lúc, chúng ta không thực hiện điều này được tốt cho lắm. Vì sao? Với Heidegger, lỗi nằm ở sự mê hoặc của chúng ta  bởi một gã không có thực tên là gã-đó (das Man), thường hay được dịch ra là bọn-họ (the they) – như trong câu “Bọn họ nói nó sẽ kết thúc vào hôm Giáng Sinh” (Hoặc là “người ta” trong câu “Người ta không làm điều này”). Chúng ta không thể nói chắc được cái kẻ “bọn-họ” này là ai, nhưng nó có ở mọi nơi, và nó đơn giản sẽ đánh cắp mọi quyết định mà nhẽ ra tôi nên tự mình chọn lấy.

Với Sartre, vấn đề là mauvaise foi, hay niềm tin lệch lạc. Để tránh phải đối mặt với thứ cảm giác tôi thật tự do làm sao, tôi lại giả vờ rằng mình chẳng hề có chút tự do nào. Nếu tôi không thể loay hoay để viết ra cuốn sách tuyệt vời của tôi, tôi sẽ tự thuyết phục mình rằng có quá nhiều nhu cầu không thể tránh khỏi cho thời lượng của tôi, hơn là phải thừa nhận rằng tôi có thể tự do chọn xem mấy đoạn phim về mèo trên mạng.

Chúng ta thường bị đắm chìm trong những niềm tin lệch lạc. Thậm chí thỉnh thoảng nó còn có lợi nữa cơ, rằng nó làm cuộc sống này sống được. Tôi không thể cứ nhìn chằm chằm mãi vào cái vực tự do thăm thẳm đó được. Tôi còn có chuyến tàu phải bắt, vì vậy tôi để đồng hồ báo thức và khi nó kêu vang, tôi sẽ tự động lăn ra khỏi giường như thể một con rối dây (Như cách nói của Sartre, tôi thấy cách phản ứng của chính mình với đồng hồ báo thức sẽ khó đoán hơn). Một cuộc đời hoàn toàn chân thực là điều rõ ràng không thể, nhưng thi thoảng cố gắng để có được khoảnh khắc nào đó để sống thực sẽ là tốt cho chúng ta.

Hiện nay tính xác thực đã trở nên thứ gì đó như một món hàng. Chúng ta được bán cho những đĩa than với âm thanh được thu lại một cách trung thực, những khẩu phần ngũ cốc ăn sáng đích thực, những tấm ván sàn thực nhất, và cả những gói trải nghiệm cho một kỳ nghỉ chất lừ. Những nhà hiện sinh luôn nhắc nhớ ta rằng tính xác thực thực nhất rất có liên quan đến độ trung thực và sự cảnh giác. Một nhà hiện sinh khác, Gabriel Marcel, đã cho rằng thứ nghĩa vụ riêng biệt của các nhà triết học là phải duy trì tính cảnh giác không ngừng, khi mà những ảo tưởng chính trị còn đang cám dỗ hay những lời dối trá vẫn đang dần chiếm lấy tâm trí chúng ta, và rồi ông ấy hay cô ấy có thể gióng lên hồi chuông như một chiếc đồng hồ báo thức để lay động mọi người thức dậy.

6. Các nhà hiện sinh luôn tâm niệm rằng quan trọng là ta làm gì (và có thể thức trắng đêm để tranh luận về điều đó)


Biểu tình ở Algiers cho đất Angerian-Pháp, tháng 4 năm 1958. Ảnh: Raymond Darolle/Europress/Sygma/Corbis

Hầu hết các nhà hiện sinh đều thích thú với việc bước ra thế giới ngoài kia và tạo ra sự khác biệt, hơn là việc tự thành thật với mình trong một căn phòng. Sartre và De Beauvoir đã luôn “gắn bó” và “đầy cam kết” trong đời sống chính trị của họ. Đó không chỉ là nói: Họ đã gầy dựng phong trào vì nhiều lý do: đặc biệt là đứng về phía những người đấu tranh đòi quyền độc lập trong suốt chiến tranh Algerian từ năm 1954 đến 1962. Điều này tạo cho họ vô vàn kẻ thù. Vào ngày 7 tháng 1 năm 1962, ai đó đã lên kế hoạch đánh bom vào căn hộ phía trên căn mà Sartre đang sống cùng mẹ. May mắn thay, không ai bị thương, dù cho cả hai căn hộ đều bị phá hủy. Ông và mẹ mình đã phải chuyển ra ngoài, nhưng ông đã không để cho cuộc tấn công làm chấm dứt những hoạt động của mình. Niềm tin vào tầm quan trọng của những cam kết đã bắt rễ vào một lý tưởng mượn của nhà triết học gốc Phổ Immanuel Kant: Rằng mỗi một quyết định dù là nhỏ cũng nên được đưa ra như thể chúng ta quyết định cho toàn thể nhân loại, chứ không chỉ là cho cái tôi hèn mọn của chính chúng ta. Thứ niềm tin này trong cách xử lý mọi chuyện của các nhà hiện sinh gốc Phổ đã giúp gieo cảm hứng cho những nhà hùng biện: Đó có vẻ là rất hệ trọng để làm cho mọi thứ đúng đắn. Họ đã thức suốt nhiều giờ để tranh cãi cùng cánh bạn hữu – những người không chắc sẽ còn là bạn bè nữa khi bình minh ló dạng.

Thứ triết lý gì có thể đáng để mất đi cả những người bạn như vậy? Chà, một vài quyết định quả thực là cả một vấn đề trong chính cách nghĩ sống-hay-là-chết đó. Sau khi trái bom nguyên tử được thả xuống Hiroshima và Nagasaki năm 1945, Sartre đã viết một bài luận chỉ ra bằng cách nào mà điều này đã thay đổi mọi thứ. Từ giờ, ông nói, chúng ta biết rằng chúng ta có thể phá hủy chính bản thân mình, vì vậy chúng ta phải ra quyết định mỗi ngày rằng liệu ta có còn muốn tiếp tục sống hay không. Camus cũng đã nhìn thấy tính nhân văn khi phải đối diện với sự lựa chọn giữa một cuộc tự sát tập thể và việc học cho mình cách thông minh hơn để sử dụng thứ công nghệ đó – “Giữa địa ngục và lý luận”. Họ vẫn đúng về điều này.

7. Các nhà hiện sinh không hề là những kẻ thủ cựu


De Bourvoir và Sartre trên đường phố Paris sau khi được trả tự do từ đồn cảnh sát, tháng 6 năm 1970. Họ bị bắt vì phát tán báo chí kêu gọi lật đổ chính quyền nước Pháp. Ảnh: Bettmann/Corbis

Đối lập với những niềm tin đại chúng, Sartre và De Beauvoir nhìn chung sẽ không tuân theo chính quyền một cách mù quáng. Sartre đã ngắn gọn gọi mình là một người cộng sản đã cải hóa vào đầu những năm 1950, đặc biệt là sau cái biến cố kỳ quái của nhà lãnh đạo đảng Cộng Sản Pháp, Jacques Duclos, người đã bị bắt và tạm giữ trong một tháng sau khi bị bắt gặp trong một chiếc xe hơi chở theo xác hai con chim bồ câu. Nhà chức trách đã nghĩ những con chim là có chủ đích truyền thông điệp đến với Moscow; Duclos nói ông ta chỉ định mang chúng về để nấu bữa tối. Sartre đã viết, “Sau 10 năm suy ngẫm tới lui, tôi đã đi đến một luận điểm mấu chốt”: Vụ việc phi lý này đã che đậy những năm tháng quấy rối cỏn con của những người cộng sản trên đất Pháp. Ông ấy đã bảo vệ đảng bằng cách viết báo, nhưng thậm chí là hiện tại ông vẫn không chịu ký tên. Sau đó ông đã từ bỏ hình ảnh người Cộng Sản và đã thử nghiệm với triết lý của Mao, nhưng luận điểm chính trị của Sartre đã được tổng hợp đầy đủ nhất trong một lời bình ông viết năm 1968: “Nếu ai đó đọc lại toàn bộ số sách tôi viết, họ sẽ hiểu rằng tôi đã không hề thay đổi gì nhiều, và rằng tôi đã luôn là một kẻ vô chính phủ.”

Về phần họ, những người cộng sản không bao giờ chấp nhận chủ nghĩa hiện sinh. Họ có ác cảm về tính dứt khoát của nó về vấn đề tự do: Làm sao mà một đám những tay hiện sinh chủ nghĩa lúc nắng lúc mưa có thể đóng góp vào một cuộc cách mạng tập thể có tính tổ chức toàn diện cho được? Một thành viên phe cánh tả đã bác bỏ chủ nghĩa hiện sinh như “một cái phôi thai hướng nội để ai đó có thể cảm thấy phấn khích khác lạ khi nghiền nát nó”. Những kẻ theo phe cánh hữu cũng ghét bỏ nó không kém, cũng hệt như phía nhà thờ Công Giáo, thứ vào năm 1948 đã làm cho toàn bộ các tác phẩm của Sartre bị liệt vào mục sách cấm, theo sau đó là cuốn Giới Tính Thứ Hai của De Beauvoir. Họ đã sợ rằng việc tiếp thu từ những nhà hiện sinh vô thần sẽ dẫn lối con người đến với sự hoài nghi vào niềm tin của chính mình và vào chính quyền nhà thờ – thứ mà nó thực sự đã. Chủ nghĩa hiện sinh có khuynh hướng làm loài người trở nên nghi ngờ và thách thức lấy mọi thứ – thậm chí chính những người thực hành thuyết này cũng phải mất một lúc để nhìn ra được điều đó.

8. Những nhà hiện sinh có thể sẽ thú vị để đọc về


Một… Albert Camus nổi tiếng là đọc được. Ảnh: Loomis Dean/Time & Life Pictures/Getty Image

Một sự thật hiếm khi được ghi lại về các nhà hiện sinh và cả đồng bọn của họ là rằng họ viết được vài cuốn sách tuyệt cú mèo – song song với những cuốn thật dễ sợ.

Camus nổi tiếng là đọc được: Ông ấy có dụng ý khi mô hình hóa cuốn tiểu thuyết Kẻ Ngoài Cuộc của mình với lởm chởm những mẩu chuyện trinh thám Mỹ, hơn là kiểu cách thanh lịch cân xứng của dòng văn học cao của Pháp. De Beauvoir đã tạo ra dòng tiểu thuyết tâm lý nắm bắt từ những bi kịch đời thường và cả những cuộc tranh luận đang hoành hành giữa đám bạn của bà. Bà còn khuyến khích Sartre xây dựng cuốn Buồn Nôn của ông theo kiểu trinh thám tội phạm (Whodunnit) hơn là kiểu một bài xã luận. Thật sự, dù bài xã luận của ông cũng có chứa đựng tính chất tiểu thuyết, ông đã hợp nhất nhiều trải nghiệm cá nhân vào tác phẩm Hiện Hữu và Sự Hư Vô (Being and Nothingness) của mình, thường cũng sẽ mang lại hiệu ứng kinh ngạc, vì quan điểm của ông cũng bao gồm những mẩu chuyện kỳ lạ về cây cối, những đường trượt tuyết, mật ong, những thứ mỏng manh, và cả những hồi tưởng kinh khủng sau khi nạp thuốc thức thần (Mescaline), khi mà ông bị theo bởi những con tôm hùm tưởng tượng.

Đối với Heidegger, nghiệp viết của ông thỏa được nhiều loại hình tiêu khiển khác nhau – Dù từ đấy không thường được đề cập khi nói về sách của ông. Ông viết chúng trong một phong cách điền đầy vào những đồng lẻ nhưng hừng hực khí chất. Thay vì chỉ nói về loài người hoặc những tâm trí có ý thức, ví như, ông nói về Dasein, nghĩa đen là “tồn tại-ở đó”. Ý tưởng là giúp ta khỏi phải trượt dài vào những thói quen cổ hũ và cả những sai lầm nơi não bộ. Sau khi đọc qua vài chục trang, bạn sẽ thấy ngôn từ trở nên cám dỗ hơn và có khả năng lan tỏa – chí ít là sau khi bạn đọc qua một cụm từ như “đi-trước-thứ-mà-chính-nó-đã-trong-cũng-như-ở-cùng”, chính là thời điểm mà bạn hoặc sẽ chết giấc trong niềm hân hoan hoặc sẽ đổ gục trong nỗi tuyệt vọng.

Bên cạnh cả việc viết trong những văn phong kỳ lạ…

9. Những nhà hiện sinh cũng viết về những chủ đề kỳ quái


Heidegger không hề thích vô vàn những mẫu máy móc kỳ quái thập niên 50, bao gồm cả máy đánh chữ. Ảnh: Alamy

Họ và những gã bạn theo chủ nghĩa hiện tượng thường lôi ra những chủ đề mà trước đây từng được xem là phần rìa của triết học, ví như cơ thể, giới tính, tình dục, đời sống xã hội, phát triển con trẻ và cả mối liên hệ của chúng ta với công nghệ, rồi mang tất cả chúng đặt vào trung tâm suy tư của họ.

Nói về công nghệ. Heidegger đã là một nhà tiên phong trong việc chỉ ra rằng nó đã thay đổi chính bản chất những trải nghiệm làm người nhiều như thế nào. Trong một bài giảng năm 1953 (Có sự tham dự của Werner Heisenberg, và cả những người khác), ông đã nói bản chất của công nghệ là chính bản thân nó chẳng có gì là “công nghệ”. Có nghĩ rằng, nó chẳng liên quan gì đến việc tạo ra một cỗ máy thân thiện với người dùng hơn hay hiệu quả lẫn hiệu năng cao hơn. Vấn đề đích thực chính là cách mà chính chúng ta đang hiện hữu: Đầu tư vào công nghệ sẽ đưa chúng ta vào sâu bên trong câu hỏi về việc chính chúng ta đang vận hành như thế nào, cách chúng ta chiếm giữ Trái Đất và cả chúng ta là ai. Ông cũng đã cảnh báo về tham vọng không đáy của chúng ta trong việc biến mọi thứ trên hành tinh này trở thành thứ có thể khai thác được và tích trữ được. Cuối cùng, chúng ta thậm chí còn thách thức và lưu giữ chính mình, như bằng chứng rõ ràng trong cụm từ “Nguồn nhân lực”.

Heidegger đã nghĩ về những cỗ máy kỳ quái những năm 50 ví như máy gặt đập liên hợp, đập thủy điện, máy đánh chữ và cả máy chiếu bóng, đó là chỉ nói về vài thứ ông ấy không thích. Nhưng người ta sẽ không thể đọc được điều này hôm nay nếu không từng nghĩ về một cuộc sống online, và cả việc giám sát bằng máy tính. Một nhà tiên tri người Đức, Friedrich Heinemann, đã nhận xét trong cuốn sách năm 1954 của ông mang tên Chủ Nghĩa Hiện Sinh và Tình Trạng Khó Khăn Thời Hiện Đại rằng sự xuất hiện của “Máy tính tốc độ cao” sẽ nêu bật ra “câu hỏi hiện sinh chân thực nhất”: Đó là bằng cách nào chúng ta duy trì được tự do. Vào năm 2001, nhà triết học Hubert Dreyfus đã diễn tả internet như một thiết bị cao cấp của Heidegger: Thứ tìm kiếm và chuyển hóa mọi thứ (Bao gồm cả những thứ của đời sống chính chúng ta) trở thành một mạng lưới trơn tru để lưu trữ “Nguồn lực”, ngay lập tức sẵn có nhưng sẽ bị tước khỏi chiều sâu và tính riêng tư.

Mười lăm năm sau khi những từ này được xuất bản, nhiều người trong chúng ta sẽ đã chìm đắm vào cái mạng lưới đó đến nỗi chúng ta sẽ khó để nhìn ra điểm có lợi nằm tách biệt để từ đó có thể nghĩ nghiêm túc về điều này. Heidegger đã nhắc nhở chúng ta đừng chỉ biết đặt nghi vấn vào công nghệ, nhưng hãy hỏi về chính bản thân mình.

Toàn bộ vấn đề này là một ví dụ tốt cho lý do cuối cùng:

10. Các nhà hiện sinh hay nghĩ lớn


Martin Heidegger, năm 1933. Ảnh: Corbis

Không như những triết gia lục địa sau này, vốn bị mê đắm bởi trò chơi chữ nghĩa trong các văn bản và chẳng hứng thú gì với con người thật, các nhà hiện sinh đã đi thẳng vào những câu hỏi lớn nhất và cá nhân nhất. Chúng ta là gì? Điều làm ta khác biệt so với những loài vật khác? Tự do là gì? Chúng ta tương tác như thế nào? Bằng cách nào, nếu chúng ta không tin vào Thượng Đế, liệu chúng ta còn có thể sống cuộc sống có ý nghĩa? Chúng ta muốn tạo ra một thế giới như thế nào cho tương lai? Chúng ta có những trách nhiệm gì? Chúng ta làm gì?

Các nhà hiện sinh chủ nghĩa sẽ không đưa ra cho chúng ta những giải pháp giản đơn, và ở cấp độ cá nhân, họ thậm chí còn không phải những hình mẫu lý tưởng: Họ có quá nhiều lỗi lầm. Sartre là một người thích tự nuông chiều và hay đòi hỏi, và ông cũng bảo vệ lấy những chế độ đáng khinh, dù chỉ là trong phút chốc. Heidegger, như đã được chép lại đầy đủ ngày nay, là một người theo chủ nghĩa dân tộc và là một người đồng tình với Đức Quốc Xã cả một thời gian dài sau chiến tranh. Hầu hết mọi người trong câu chuyện chủ nghĩa hiện sinh đều thể hiện những phẩm chất làm chúng ta cảm thấy không được thoải mái.

Nhưng họ chắc chắn cũng đã đề ra điều gì đó hữu ích hơn: Họ đều là những kẻ suy tư thú vị. Họ nhắc nhớ chúng ta rằng sự tồn tại đã là khó khăn và rằng loài người lại đang hành xử một cách đáng kinh sợ, nhưng cùng lúc đó họ cũng chỉ ra khả năng của con người là bao la đến nhường nào. Đó là lý do chúng ta có thể có được những ý tưởng đầy cảm hứng bằng cách đọc họ thêm một lần nữa – và cũng là lý do chính chúng ta có thể thậm chí sẽ cố gắng để là một người theo chủ nghĩa hiện sinh hơn một chút.

Chú Ý Đặc Biệt Đến Thất Bại-Chìa Khóa Để Mang Đến Thành Công.

Đây là bài dịch từ tác giả Shane Melaugh, đây là link đến trang gốc:https://activegrowth.com/failure-slowmo.

Chúng ta đã được nghe hàng tá các bình luận vô vị về sự thất bại. Ví dụ như là, không quan trọng bạn thất bại bao nhiêu lần mà quan trọng là tần suất bạn đứng lên sau những thất bại đó.

Điều này thì đúng về mặt kỹ thuật, nhưng nếu tất cả những gì bạn làm sau thất bại là đứng lên và tiếp tục cố gắng, bạn đã bỏ lỡ một công cụ học tập mạnh mẽ nhất có thể theo ý của bạn…

Nếu bạn từng thất vọng vì bạn liên tục có những mục tiêu tham vọng và bạn liên tục thất bại chúng trong thời gian ngắn thì chiến lược tôi chia sẽ trong ngày hôm nay có thể sẽ thay đổi tất cả.

Vấn Đề Thực Hiện

Mỗi người có một mục tiêu, một kế hoạch và dường như mọi thứ họ cần, để tuân theo kế hoạch và đạt được mục tiêu, nhưng rồi họ vẫn không đạt được.

Tôi gọi đó là vấn đề thực hiện. Khi bạn có phương tiện và thông tin, nhưng bạn vẫn không thực hiện nó, vì vài lý do.

Vấn đề thực hiện là vấn đề cơ bản của thời đại thông tin và những người sống trong thời đại này ( ý tôi là: những người đủ may mắn để có thể tiếp cận thông tin và không bị cuốn vào một cuộc đấu tranh sinh tồn). Bởi vì bạn đang đọc bài viết này, có lẻ bạn là một trong những công dân may mắn trong thời đại thông tin này.

Nếu bạn có thể giải quyết vấn đề thực hiện, thể giới sẽ trong tầm tay bạn.

Dừng Cái Việc Đi Lòng Vòng Lại Đi!

Tôi bị mê hoặc bởi cái cách mà chúng ta thất bại. Khi chúng ta trải qua những vấn đề thực hiện và nó không phải là một thất bại kiểu như “quá khó với tôi”. Nó là một kiểu thất bại có cảm giác một chút xấu hổ.

Chúng ta lập kế hoạch, chúc ta tạo ra những mục tiêu cho năm mới và nhiều thứ… và sau đó chung ta dễ dàng từ bỏ những mục tiêu đó, không vì lý do gì cả. Không phải vì chúng ta đánh giá thấp các thử thách hay là chúng ta đã cố gắng hết sức rồi bỏ cuộc vì kiệt sức. Chúng ta chỉ đơn giản là dừng lại các mục tiêu.

Đây là chuyện xảy ra với tất cả chúng ta, và khi những sài lầm này diễn ra thì chúng ta lại quay lưng lại với sự xấu hổ. Chúng ta không muốn người khác biết là chúng ta đã từ bỏ. Đó có vẻ là một cảm giác xấu hổ khi thất bại như thế. Thực tế là, chúng ta thậm chí còn không muốn bản thân mình biết, nên ta chối bỏ thất bại đó một cách nhanh nhất có thể. Ta cố gắng không nghĩ về quảng thời gian đó và tìm sự hứng thú ở những mục tiêu với, và rồi chắc rằng chúng ta sẽ tiếp tục thất bại trong thời gian ngắn hơn.

Lời khuyên tốt nhất tôi dành cho bạn là dừng việc lặp lại vòng tròn thất bại này. Thay vào đó, hãy trở nên thật sự, thật sự quan tâm đến sự thất bại của bạn.

Nếu bạn có thể giải mã được nó, nếu bạn có thể nhìn sâu sắc vào nó, cố gắng lấy lại tất cả mọi chuyện diễn ra dẫn tới thất bại của bạn – giống như là bạn đang xem chậm lại những việc bạn đã trải qua, rồi bạn sẽ tìm được chìa khóa cho thành công ở tương lại.

Trong các video trước của tôi, tôi đã đề cẩm về sự quan trọng của việc kết hợp năng suất với chiếc lược và cách để phát triển khả năng tự nhận thức sẽ giúp bạn tạo được những chiến lược tốt hơn.

Đây là một nguyên liệu khác. Nó là một cách khác để tự nhận thức bản thân. Nếu bạn muốn phát triển khả năng nhận thức và chiếc lược hiệu quả, thì đây là điều hữu ích nhất cho bạn để tăng năng suất bản thân. Đây chính là điều bạn nên tập trung vào. Phân tích những thất bại của bạn và coi như là một cơ hội để hiểu rõ về bản thân mình. Để trở nên tốt hơn.

Hãy Trở Nên Phi Thường!

Bạn có biết vì sao tôi thích kỹ thuật này không? Nó là một cái gì đó mà hầu hết mọi người không làm, vì nó không thoải mái và nó độc đáo.

Hãy nghĩ về việc có bao nhiêu người thực sự theo đuổi sự phát triển cá nhân. Và bây giờ hãy nghĩ có bao nhiêu người làm theo những lời khuyên là phải nổ lực, luôn luôn tích cực, nhìn mọi thứ bằng một đôi mắt thông minh từ các bậc thầy.

Hãy nghĩ về việc có bao nhiêu người sẵn sàng thực sự đề làm một việc gì đó hơi không thoải mái như là nhìn một cách sâu sắc vào thất bại của họ. Và rồi biến những thứ họ đã khám phá ra vào một chiến lược mới.

Tôi yêu nó vì nó là một điều phi thường và hiếm thấy, tôi luôn luôn yêu những điều như vậy. Nó hiệu quả với tôi, hy vọng nó cũng sẽ thành công với bạn.

Hãy cho tôi biết về cảm nhận của bạn bằng cách bình luận bên dưới!

Bi Kịch Của Tự Tử Và Sự Chánh Niệm Giúp Chúng Ta Mạnh Mẽ Như Thế Nào.

Bài viết của Tamara, link đến trang gốc: https://blog.calm.com/relax/holdingstrong

Đầu tiên là Kate Spade, và giờ tới lượt Anthony Bourdain.

Những bi kịch này cơ bản là đau lòng. Và họ bỏ chúng ta đi với nhiều câu hỏi… Điều gì dẫn đến nỗi đau của họ? Tại sao họ không cần giúp đỡ? Họ có nên tìm sự hổ trợ không?

Nhưng chúng ta cũng biết rằng tiền bạc và danh tiếng của con người không phải là chỉ tiêu cho một cuộc sống hạnh phúc. Thực tế là, sống trên đỉnh cao có thể cực kỳ cô độc, và khiến cho việc tìm kiếm sự giúp đỡ trở nên khó khăn hơn.

Và sau đó, dĩ nhiên có nhiều người đã tự lấy đi cuộc sống của chính họ mỗi ngày. Họ không phải là tiêu biểu cho tất cả mọi người, nhưng công bằng mà nói ai cũng có một cuộc sống đáng quý.

Mặt dù sự kỳ thị về bệnh tâm thần đang mờ dần, nhưng khi chúng ta gặp vấn đề phiền muộn hoặc có những ý nghĩ muốn tự tử, yêu cầu sự giúp đỡ không bao giờ là một lựa chọn. Sự xấu hổ và choáng ngợp khiến chúng ta cảm thấy bất lực cho việc bước ra cửa, gửi một tin nhắn hay là gọi một cuộc điện thoại.

Trong thế giới ảo, từng bước nhỏ, mọi người đang kỳ thị các vấn đề về tâm thần. Nhưng khi trở lại với thế giới thực, làm cách nào để họ có thể tìm thấy sự kết nối khi họ cần nó nhất?

Và đối với những người trong chúng ta muốn hỗ trợ những người có nhu cầu, làm sao để chúng ta xuất hiện trong thời kỳ khủng hoảng đó, đặc biệc là khi chúng ta không biết gì về những điều mà người ta thương đang trải qua. Tôi không chắc những câu trả lời nhưng tôi nghĩ đặt câu hỏi là bước đệm đầu tiên để bắt đầu.

Như một điều chắc chắc rằng hãy để cho những người ta yêu thương biết rằng chúng ta luôn ở đây và quan tâm đến họ. Đối với những người đang gặp vấn đề, tiếp cận cảm xúc của họ có thể bất khả thi. Vì vậy hãy để ý đến những dấu hiệu: phiền não, rút tiền, cảm xúc thất thường, khó ngủ, phá vỡ những kế hoạch, tuyệt vọng, vô vọng và sử dụng ma túy.

Sự thật là, tôi đã từng trong tình trạng này. Chắc chắc là như vậy. Nên tôi hiểu cảm giác bị mắc kẹt trong bóng tối và làm thể nào để có thể mường tượng ra cách vượt qua nó. Nhưng như chúng ta đã học trong thực hành chánh niệm, vô thường là điều không thể trách khỏi trong cuộc sống. Mọi thứ đang và sẽ thay đổi. Sau bóng tối, nếu chúng ta chiến đấu theo cách của chúng ta, ánh sáng rồi sẽ xuất hiện. Chúng ta chỉ phải đào sâu và tìm kiếm sự kiên nhẫn để có thể bám vào và nhìn thấy nó.

Thay vì chạy khỏi chúng, chúng ta có thể bắt đầu nhìn chúng đến và đi, thay đổi và dịu đi. Và thực hành điều này sẽ giúp chúng ta tạo ra một không gian bao quanh sự choáng ngợp của thất vọng để giúp chúng ta nhìn vào bóng tối như là một món quà tìm năng đầy tuyệt vời. Nó không đơn giản như vậy, tất nhiên, như J.K Rowling đã nói.

“Tận cùng nỗi đau là nền tảng vững chắc cho việc xây dựng lại cuộc sống của tôi.”

Tôi biết rằng điều này là đúng với mỗi cá nhân. Khi chúng ta ở tận đáy, không còn gì để mất, và nó sẽ mở ra cho chúng ta một cách sống mới. Ở tận cùng của đáy sẽ thúc đẩy chúng ta tạo nên những sự thay đổi mà chúng ta không thể nào làm khác được.

Vì vậy, với bất cứ ai đang đọc bài này ngày hôm nay, người đang cảm giác bị mắc kẹt, chán nản hoặc có ý định tự tử, hãy biết rằng bạn không đơn độc. Và hãy biết rằng sự giúp đỡ luôn sẳn sàng, hảy tìm kiếm niềm can đảm bên trong để tiếp cận sự giúp đỡ, bất kể bạn cảm thấy nó khó khăn như thế nào. Hãy gọi điện thoại cho một người bạn, gia đình hoặc là đường dây nóng tự tử của thành phố bạn đang ở.

Sẽ có những khoảnh khắc đen tối trong cuộc sống của chúng ta. Nhưng phải nhớ rằng mỗi hơi thở đều dẫn đến một hơi thở khác. Mỗi khoảnh khắc đều là một khoảnh khắc mới. Và sau những đêm tối, mặc dù có vẻ sẽ đen tối mãi mãi, nhưng cuối cùng ánh sáng của bình minh cũng đến.

Với tình yêu thương, Tamara

Hợp chất từ thực vật có thể chặn đứng ung thư mắt

Ngày đăng: 10/9/2018 bởi JULIA EVANGELOU STRAIT-WUSTL
Nguồn: https://www.futurity.org/eye-cancer-plant-compound-1860312/

Bên trong những tế bào được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, một hợp chất từ thực vật tự nhiên đã giúp chặn đứng những tín hiệu hoạt động quá mức, thứ làm phát triển những vết hắc tố ở màng bồ đào, một chứng bệnh ung thư về mắt, theo như báo cáo từ các nhà nghiên cứu.

Vết hắc tố ở màng bồ đào vốn phát triển từ lớp tế bào sắc tố trên mắt bao gồm luôn cả vùng mống mắt. Căn bệnh đã gây tử vong cho nửa số bệnh nhân có dấu hiệu phát triển này, chiếm từ 3 đến 5 phần trăm số ca ung thư do hắc tố.

Không như ung thư hắc tố da, ung thư hắc tố màng bồ đào không hoàn toàn liên quan tới phơi nhiễm ánh sáng tia cực tím (UV), dù vậy, những người với mắt xanh và làn da trắng nhợt nhạt có nguy cơ cao nhất với sự phát triển căn bệnh này, theo các nhà nghiên cứu.


Ung thư hắc tố màng bồ đào, vùng có màu xanh đậm trong hình,
chính là chứng bệnh ung thư mắt vốn chưa có liệu pháp chữa trị tập trung.

“Ở khoảng nửa số bệnh nhân, khối u này sẽ di căn đến những cơ quan khác và phát triển nhanh chóng,” Theo lời Kendall J. Blumer, giáo sư sinh học tế bào và sinh lý học của đại học Washington ở St. Louis và là tác giả lâu năm của nhiều bài báo, xuất hiện trên trang Dấu Hiệu Khoa Học (Science Signaling)

 “Ung thư hắc tố da hiện nay đã có nhiều liệu pháp chữa trị tập trung khá mới mẻ, bao gồm liệu pháp về hệ miễn dịch vốn giúp kéo dài sự sống, thậm chí sau khi khối u đã lan rộng. Nhưng không may, những liệu pháp này có vẻ không có nhiều tác dụng chống lại ung thư hắc tố màng bồ đào. Do đó vẫn cần có một hướng điều trị mới đối với loại khối u đặc biệt này.”

Một giải pháp giản đơn?

Các nhà khoa học đã nghiên cứu những phân tử dấu hiệu hoạt động quá mức trong chứng ung thư hắc tố màng bồ đào trong cả một thập kỷ nhưng vẫn chỉ đạt được những thành công rất nhỏ về mặt lâm sàng trong việc dập tắt căn bệnh này.

Loại protein hoạt động quá mức thường được tìm thấy trong loại hắc tố đặc biệt này gọi là G alpha q, và nó là một phần của nhóm phân tử tên protein G. Khi những protein này làm phát triển những lỗi di truyền vốn làm chúng được kích hoạt lên vĩnh viễn, ung thư có thể là kết quả của quá trình này.

Trong trạng thái kích thích, G alpha q được liên kết với những phân tử khác giúp giữ chúng linh hoạt và dòng chảy tín hiệu này sẽ chảy liên tục. Trong quá trình nghiên cứu tìm ra liệu pháp cho chứng ung thư hắc tố màng bồ đào, các nhà khoa học đã thử qua nhiều chiến thuật để chặn đứng nhiều phần riêng biệt của dòng chảy kích hoạt bởi G alpha q. Mãi đến nay, vẫn chưa có hướng tiếp cận nào là thành công để giúp được các bệnh nhân với căn bệnh này.

Những phát hiện mới đã đưa ra một giải pháp đã gây ra sự kinh ngạc do chính tính đơn giản của nó.

Thay vì dập tắt nhiều phần của dòng chảy mà G alpha q kích hoạt, các nhà khoa học đã chỉ ra họ có thể đơn giản chờ cho G alpha q giải phóng thứ phân tử giúp chúng ở trạng thái kích hoạt. Sự phân chia ngẫu nhiên này xảy ra ở tốc độ thấp, nhưng nếu một phương thuốc có mặt để bẫy G alpha q đi vào trạng thái nghỉ, các nhà nghiên cứu cho rằng toàn bộ dòng chảy tín hiệu gây ra ung thư sẽ dần được chặn đứng, từng tế bào protein một.

Các nhà nghiên cứu còn tìm ra một hợp chất tự nhiên tên FR900359 (FR) – có trong một dòng hoa anh thảo (Primrose) thuộc họ thực vật – đơn giản sẽ làm được điều đó.

 “Hợp chất thực vật này sẽ bó chặt để làm tắt G alpha q, bẫy chúng đi vào trạng thái nghỉ,” Blumer nói. “Khi dạng G alpha q vốn gây ra ung thư tự chặn đứng chính nó, FR sẽ nhốt chúng ở trạng thái đó.”

Bật và tắt

“Trong nghiên cứu của chúng tôi, chúng tôi đã chỉ ra rằng dạng gây ung thư của G alpha q không nhất thiết phải được dập tắt bằng lực,” Tác giả Michael D. Onken, một giáo sư trợ lý ngành hóa sinh và nhà sinh lý học phân tử, đã nói. “Thỉnh thoảng chúng sẽ tự chặn đứng chính mình. Nhưng sau đó chúng có thể bị khóa chặt bởi FR, và thế là đủ để dập tắt sự phát triển của tế bào gây bướu.”

Thật sự, các nhà nghiên cứu còn chỉ ra FR không chỉ phá hủy những tế bào gây ung thư hắc tố màng bồ đào ở người nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, nó còn thể hiện khả năng cải hoàn tập hợp con của những tế bào này về trạng thái giúp tái tạo lại những tế bào sắc tố bình thường cho mắt.

Loại protein G vốn phổ biến trong cơ thể người, do đó việc tìm ra cách để vô hiệu hóa chúng có thể nhiều khả năng liên đới tới những rối loạn khác, bao gồm hội chứng dịch tả và Sturge-Weber, một rối loạn thần kinh thường dẫn tới co giật và suy yếu cơ, theo các nhà nghiên cứu.

Bằng chứng cũng liên kết những protein này với những chứng rối loạn phổ biến ảnh hưởng đến nhiều người, bao gồm hen suyễn và cao huyết áp.

Những nhà nghiên cứu hiện tại đang lập kế hoạch thí nghiệm để tìm ra liệu hợp chất FR có thể thực sự chữa trị chứng sắc tố màng bồ đào trên mô hình chuột bệnh.

Trung tâm ung thư Siteman, tổ chức Pedal for the Cause và Viện sức khỏe quốc gia đã gây quỹ cho công trình này.

Nguồn: Đại học Washington ở St. Louis

Nghiên cứu gốc: DOI: 10.1126/scisignal.aao6852

8 cách chính mà chạy bộ có thể biến đổi cơ thể và cả não bạn

Tác giả: Kevin Loria
Ngày viết: 27/05/2018
Nguồn: https://www.businessinsider.com/health-benefits-of-running-2018-4

Con người vốn được tạo ra để chạy.

  • Chạy bộ có thể cải thiện rõ rệt cả sức khỏe thể chất lẫn tinh thần.
  • Vốn là một dạng của thể dục nhịp điệu, chạy bộ có thể giúp giảm stress, tăng cường sức khỏe tim mạch, và thậm chí còn giúp giảm các triệu chứng trầm cảm.
  • Một vài nhà nghiên cứu nghĩ rằng chạy bộ có thể có lợi cho chúng ta vì đó là thứ chúng ta tiến hóa lên để thực hiện.

Nhiều chuyên gia nghĩ rằng cơ thể con người đã được tạo ra theo cách đó là vì chúng ta tiến hóa lên để trở thành những tay chạy bền cực kỳ hiệu quả. Hình dáng của hông và bàn chân của chúng ta, chiều dài chân, những đĩa cột sống có tác dụng giảm chấn của ta và cả khả năng tiết mồ hôi đã làm hiện thực hóa khả năng chạy từ dặm này sang dặm khác của chính mình.

Do đó có lẽ sẽ chẳng là ngạc nhiên khi chạy bộ có liên quan mật thiết đến nhiều lợi ích cho cơ thể và não bộ của ta.

Nhiều chuyên gia còn cho rằng thể dục chính là thứ gần nhất với thần dược. Như một dạng của thể dục tim mạch vốn khá dễ dàng tiếp cận, chạy bộ là một trong những cách trực tiếp nhất để đạt đến những lợi ích quan trọng của việc vận động.

Do được cải thiện từ thể dục nhịp điệu, chạy chính là cách tuyệt vời giúp tăng cường sức khỏe tim mạch. Thêm vào đó, nó đốt cháy calo và có thể xây dựng sức mạnh, trong số những thứ khác. Có cả một danh sách dài những lợi điểm về mặt tâm lý mà những người chạy bộ có được từ môn thể thao của họ.

Làm quen với việc chạy bộ, nếu bạn đã lâu không chạy hoặc chưa từng, có thể sẽ rất khó khăn.

Nhưng một khi cơ thể và tâm trí của bạn bắt đầu đã bắt đầu quen dần, việc chạy có thể là niềm hân hoan, là thiền định và còn cung cấp cả một cảm giác tự do. Khi ai đó gần đây có thể hoàn thành một nửa chặng marathon của anh ấy, tôi có thể xác nhận rằng điều đó là đúng. Một lời khuyên từ nhiều tay chạy kinh nghiệm đã tạo ra sự khác biệt to lớn trong suốt cuộc chạy của tôi: Hãy nhớ rằng bạn chạy để có được niềm vui.

Có một vài lợi ích về sức khỏe thể chất và cả tinh thần của việc chạy bộ.

Thậm chí một cuộc chạy 30-phút có thể nâng cao tinh thần những triệu chứng của trầm cảm và cả cải thiện tâm trạng.

Dành ra 30 phút trên máy chạy bộ là đủ để cải thiện tâm trạng của ai đó đang phải gánh chịu chứng rối loạn trầm cảm nghiêm trọng, theo như một nghiên cứu công bố trên tạp chí trường Cao Đẳng Y Khoa Thể Thao Mỹ. Thậm chí những người tham gia vốn chỉ di chuyển với sải chân ngắn cũng có thể có được lợi ích tương tự trong việc cải thiện tâm trạng.

Điều này chỉ ra rằng bất kể tốc độ chạy của bạn là bao nhiêu, việc chuyển động cũng sẽ có những tác động tích cực và để bổ sung cho công trình nghiên cứu vốn đã vĩ đại đã chỉ ra rằng và những loại hình khác của vận động có thể cải thiện tâm trạng và giúp chống lại trầm cảm.

Ngược với những điều nhiều người vẫn nghĩ, chạy bộ thực sự có vẻ cải thiện sức khỏe đầu gối.

Đau đầu gối có thể nhanh chóng đánh bại một tay chạy bộ. Đó luôn là dấu hiệu của việc luyện tập quá mức hoặc một nhu cầu cải thiện vóc dáng hoặc sự linh hoạt của một ai đó. Nhưng việc chạy bộ hẳn không hề là nguyên nhân của chứng viêm khớp gối.

Trong một nghiên cứu kéo dài tám năm với 2,637 người tham gia, những nhà nghiên cứu đã tìm ra rằng con người chạy càng nhiều, thì càng ít khả năng họ mắc phải chứng đau đầu gối hoặc viêm khớp. Trong khi khó có thể cho rằng chạy bộ đã trực tiếp làm cho con người giảm bớt cảm giác đau gối, các nhà nghĩ cứu nghĩ rằng điều đó là có thể vì chạy bộ giúp họ giữ vững con số BMI và các cơ chân của mình được khỏe mạnh. Việc chạy bộ còn củng cố thêm cho xương.

Việc chạy bộ giúp người trẻ ngủ ngon hơn, cải thiện tâm trạng của họ và thúc đẩy khả năng tập trung.

Trong một cuộc nghiên cứu gồm 51 người trẻ với mức tuổi trung bình vào khoảng 18, nửa số được chỉ định chạy theo thói quen của mình, trong khi nửa còn lại thì không (Họ có vận động nhưng không thêm vào một chế độ chạy bộ thường xuyên). Để có được lợi ích liên quan đến việc chạy, một nhóm những người chạy bộ chạy ở tốc độ trung bình trong 30 phút mỗi ngày, năm ngày một tuần, trong ba tuần.

Những người trong nhóm chạy bộ được phát hiện ngủ ngon hơn, thể hiện những dấu hiệu của việc cải thiện chức năng tâm lý và tập trung tốt hơn trong suốt cả ngày. Những lợi ích tương tự có khả năng áp dụng cho người chạy ở bất kỳ độ tuổi nào.

Chạy bộ có thể cải thiện rõ rệt sức khỏe tim mạch.

Chúng tôi biết rằng thể dục nhịp điệu là tốt cho tim, do đó chẳng có gì phải ngạc nhiên khi việc chạy bộ có thể cải thiện hoạt động tim mạch. Nhìn chung, con người chạy càng nhiều, tim họ càng có xu hướng khỏe mạnh hơn. Nhưng bạn có thể đạt được những lợi ích to lớn mà không phải làm gì nhiều: Chạy trong 5 phút mỗi ngày có thể cộng thêm vài năm vào cuộc đời bạn, theo như một nghiên cứu trên cuốn tạp chí của trường cao đẳng tim mạch Mỹ.

Đã có những mối quan tâm về việc chạy quá nhiều – chúng ta đang nói về những cự ly siêu marathon – có thể gây căng thẳng cho tim và tạo thành sẹo. Nhưng một công trình nghiên cứu đang tiến triển có vẻ đã chỉ ra đó không phải là vấn để để lo lắng. Những nhà nghiên cứu đã tìm ra rằng con người ta vốn chạy ít nhất 40 dặm một tuần có những trái tim khỏe mạnh hơn những người chạy 13 dặm một tuần, ví dụ.

Chạy bộ có thể cải thiện não bạn ở mọi lứa tuổi và chống lại sự suy giảm nhận thức liên quan đến tuổi.

Nếu bạn muốn giữ cho tâm trí mình khỏe mạnh như chính mình, nghiên cứu chỉ ra việc tập thể dục là một trong những điều tốt nhất chúng ta có thể thực hiện.

Có lời bình về một nghiên cứu dựa trên tác dụng thúc đẩy nhận thức của môn thể dục nhịp điệu (Thứ trong nhiều nghiên cứu vốn được xem là chạy bộ, chạy thư giãn hoặc đi bộ nhanh) tìm thấy ở trẻ em, việc chạy bộ sẽ giúp cải thiện trí nhớ vận động và khả năng tập trung. Đối với trẻ thành niên, trí nhớ vận động cũng có những bước tăng trưởng tương tự cũng như khả năng chuyển đổi các tác vụ.

Đối với người trưởng thành, loại hình hoạt động này giúp cung cấp một danh sách dài các lợi ích cho não bộ, bao gồm trí nhớ vận động, khả năng tập trung và cả thay đổi tác vụ.

Việc chạy biến đổi não bộ theo hướng chống chịu tốt hơn với lo âu.

Một vài nghiên cứu đã chỉ ra thể dục nhịp điệu có thể cải thiện khả năng của con người để đối phó với chứng lo âu – Và cũng nhiều trong số những nghiên cứu đó tập trung vào những người chạy bộ. Trong một nhận định từ một bài nghiên cứu về thể dục và chứng lo lắng xuất bản trên trang Nhận Định về Tâm Lý Lâm Sàng, tác giả Peter Salmon đã kết luận rằng “Việc luyện tập sẽ thu về một quá trình mang lại khả năng phục hồi bền bỉ đối với stress”

Các nhà nghiên cứu cho rằng đây có thể là vì thể dục nhịp điệu đã làm gia tăng mức độ dẫn truyền thần kinh hệt như hợp chất serotonin và norepinephrine, và làm cho não tạo ra thêm những neuron mới.

Chạy bộ là cách tuyệt vời để đốt cháy calories.

Với tốc độ chạy 5 dặm một giờ (khoảng 12 phút một dặm), một người 160 pound sẽ đốt cháy khoảng 606 đơn vị calo trong vòng một giờ – Và một người 200 pound sẽ đốt được 755 đơn vị calo cũng trong vòng một giờ đồng hồ.

Chạy nhanh hơn, Vào tầm 8 dặm một giờ (Khoảng 7:30 phút một dặm), những người đó sẽ đốt được từ 861 đến 1074 đơn vị calo.

Chạy bộ và các hình thức khác của thể dục nhịp điệu sẽ làm giảm đáng kể tỉ lệ tử vong.

Thường xuyên tập thể dục nhịp điệu khoảng 30 phút hoặc hơn sẽ làm con người giảm thiểu khả năng tử vong vì bất cứ lý do gì. Di chuyển trong một giờ đồng hồ hoặc hơn thậm chí còn tốt hơn nữa, dựa theo một vài nghiên cứu.

Những người đã đạt đến những hướng dẫn cho bài tập thể dục này sẽ hiếm khả năng phát triển nhiều loại hình ung thư, dựa trên một nhận xét tiêu biểu trong nghiên cứu.

Đối với nhiều người, cách dễ nhất để có được tất cả những lợi ích của việc tập thể dục là ra ngoài và bắt đầu chạy.